Tầm Quan Trọng Của Bản Văn
Các hoạt động Giáo Pháp trong cuộc đời của Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche có thể được chia thành sáu giai đoạn chính. Từng giai đoạn được đánh dấu bằng một bản văn chỉ dẫn cốt tủy quan trọng. Sáu bản văn này lần lượt là Lời Khuyên Tuôn Trào Lúc Sớm Mai, Giọt Lời Khuyên Chân Thành, Giọt Cam Lồ Lời Khuyên, Bài Ca Chiến Thắng, Giáo Lý Bốn Thừa và Giáo Lý Trong Lúc Thâu Nhiếp Mọi Xuất Hiện – Tồn Tại. Ngoài những bản văn này, cũng có các giáo lý được ban ngay trước khi Ngài viên tịch.
Những bản văn này không phải là những bài luận thông thường được rút ra từ vài năm nghiên cứu học thuật, mà chúng là tinh túy trí tuệ của Ngài, có được từ một đời nghiên cứu, quán chiếu và thực hành. Chứng ngộ mà Ngài đạt được, tiểu sử của Ngài và công đức phi phàm của Ngài đã cho thấy Ngài là một vị Thánh vĩ đại và một đạo sư chứng ngộ trong từng đời trải dài từ thời của Phật Thích Ca Mâu Ni cho đến thời Đạo Sư Liên Hoa Sinh. Ngài không chỉ tích lũy thiện nghiệp dồi dào trong những đời trước, mà trong đời hiện tại, Ngài đã dành hơn sáu mươi năm tập trung vào nghiên cứu, quán chiếu và thực hành giáo lý của Đức Phật, điều mà Ngài bắt đầu làm từ khoảng năm tuổi và tiếp tục cho đến gần bảy mươi. Ngài đã dành cả cuộc đời cho tất cả hữu tình chúng sinh và Phật giáo; từ ngữ và giáo lý của Ngài, rút ra từ giếng sâu trí tuệ, thực sự vô cùng quý báu.
Bài Ca Chiến Thắng là một Doha (đạo ca) kim cương ứng khẩu, được Ngài hát lên trước khoảng năm nghìn tu sĩ vào ngày kỷ niệm chiến thắng cát tường, nhằm ngày 21 tháng 09 năm 1996, khi Ngài và các đệ tử đã xua tan tất cả cản trở bên ngoài, bên trong và bí mật.
Những vị có trí tuệ sẽ hoàn toàn hiểu mức độ siêu việt của Bài Ca Chiến Thắng sau khi nghiên cứu. Trong quá khứ, khi Ngài trao cho chúng tôi giáo lý, lúc đầu, chúng tôi không nhận ra giá trị lớn lao. Tuy nhiên, sau khi liên tục quán chiếu về Giáo Pháp và khi thời gian trôi qua, cùng với việc được tiếp xúc với các giáo lý tâm linh khác nhau, chúng tôi nhận ra rằng Ngài thực sự là con người phi phàm nhất.
Thực tế là ngay cả khi Đức Phật đã dạy tám vạn bốn nghìn giáo lý, rất hiếm người có thể làm chủ toàn bộ trong chỉ một đời. Tuy nhiên, bởi Kyabje Rinpoche đã tóm tắt những giáo lý này thành chỉ dẫn cốt tủy tuyệt vời dựa trên sự hành trì và chứng ngộ của Ngài, chúng ta cần trân trọng nó và cố gắng lĩnh hội ý nghĩa sâu xa.
Về mặt lý thuyết, hành giả Giáo Pháp cần nghiên cứu cả Kinh điển và Mật điển một cách mở rộng, chẳng hạn Năm Đại Luận Đại Thừa. Nhưng cuộc đời ngắn ngủi và thật khó để biết chúng ta còn sống thêm được bao lâu. Nhiều thay đổi có thể xảy ra trong thoáng chốc và chẳng có gì chắc chắn. Vì thế, nghiên cứu một bản văn ngắn, thứ chứa đựng những chỉ dẫn cốt tủy vĩ đại, thì giá trị lớn lao với tất cả hành giả; nếu không, họ có thể không được chuẩn bị đầy đủ khi phải từ giã thế gian này.
Ngài đã yêu cầu tất cả đệ tử truyền thừa giảng dạy hay tụng Bài Ca Chiến Thắng một lần trước khi giảng dạy hay nghiên cứu một bản văn Giáo Pháp, để bất cứ chướng ngại nào có thể xảy ra trong quá trình đều có thể được tiêu trừ. Tương tự, nếu ai đó muốn đi theo Giáo Pháp, trước tiên tụng bản văn này một lần sẽ khiến ước nguyện của họ trở thành hiện thực và bảo vệ họ khỏi việc gặp phải các chướng ngại. Ngoài ra, bất kỳ chướng ngại nào có thể xuất hiện trong lúc nghiên cứu hay thực hành Giáo Pháp có thể được chuyển hóa thành thuận duyên chỉ bằng cách đọc bản văn này hay mang theo cùng đi đến mọi nơi. Vì thế, Ngài nhiều lần yêu cầu rằng bất kỳ ai quy y hay nương tựa Ngài cần thuộc lòng Bài Ca Chiến Thắng và nắm bắt ý nghĩa sâu xa của nó.
Bối Cảnh Của Bản Văn
Vào tháng 09 năm 1995, Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche dự định viếng thăm Đài Loan, sau đó, đến Nepal để tiến hành một khóa nhập thất về Phật Vô Lượng Thọ trong hang động của Đức Liên Hoa Sinh. Nhưng sau khi đến Thành Đô, có một số vấn đề liên quan đến quá trình đăng ký hộ chiếu. Ngài cũng trải qua sự suy giảm về sức khỏe và bệnh viện ở Thành Đô không thể chẩn đoán nguyên nhân của căn bệnh. Kết quả là, Ngài ở lại Thành Đô hơn năm tháng, duy trì trong trạng thái định và ngoại trừ lúc dùng bữa, Ngài không thốt ra một từ nào.
Sau đấy, đêm nọ, Ngài có giấc mơ mà trong đó, Tôn giả Atisha, Tôn giả Dromtonpa[1], Jamgon Mipham và Lama Lodro[2], đều xuất hiện trước Ngài. Tôn giả Atisha lặng lẽ từ ái – yêu thương nhìn Ngài. Tôn giả Dromtonpa bảo rằng, “Chúng ta đều đến đây bởi Tôn giả Atisha rất quan tâm đến con. Những cơn sóng lớn trào dâng này của đại dương sẽ chấm dứt vào ngày 10 tháng 03, con có hiểu những ám chỉ không?”. (Tôn giả ám chỉ rằng khi ấy, Ngài sẽ hoàn toàn khỏi bệnh.) Sau đó, Tôn giả Atisha và Tôn giả Dromtonpa biến mất.
Jamgon Mipham trụ lại uy nghiêm, cầu nguyện mãnh liệt đến Đức Liên Hoa Sinh theo cách thức cực kỳ phẫn nộ, để xua tan tất cả cản trở bên ngoài, bên trong và bí mật và đánh bại mọi kiểu điều xấu khác nhau hiển bày từ vô minh và phân biệt. Sau đấy, Ngài biến thành ánh sáng và biến mất.
Lama Lodro đã ban lời khuyên nhân từ: “Con cần trụ trong trạng thái chói ngời của Đại Viên Mãn, sự hợp nhất vĩ đại của hình tướng và tính Không. Từ sự tập trung sâu xa này, con cần làm lợi hữu tình chúng sinh bằng Bồ đề tâm, hoán đổi khổ đau của chúng sinh khác với hạnh phúc của bản thân con. Sau đó, tất cả nghịch duyên sẽ tan biến vào Không”. Ngài cũng ban một số giáo lý khác, rồi cũng tan hòa vào tịnh quang.
Sau giấc mơ này, Kyabje Rinpoche bắt đầu dần dần bình phục và đúng như Tôn giả Dromtonpa tiên đoán, Ngài đã hoàn toàn bình phục vào ngày 10 tháng 03. Khi trở về Larung Gar, tất cả đệ tử của Ngài đã trao cho Ngài lễ cung nghênh trang nghiêm nhất. Ngài đã ứng khẩu hát lên Bài Ca Chiến Thắng giữa tứ chúng đệ tử. Chẳng thể nào miêu tả hạnh phúc của mọi người khi ấy. Ngài cũng đặt tên cho Học viện của đệ tử Hán là Chiến Thắng Phục Ma Tự, chỉ ra chiến thắng vĩ đại này.
MỞ ĐẦU
Tựa Đề
Kính Lễ
A. Tựa Đề
Bài Ca Chiến Thắng: Diệu Âm Của Trống Trời
1. Ý Nghĩa Của Tựa Đề
Trong tựa đề, Chiến Thắng nghĩa là hành giả có khả năng tiêu trừ tất cả chướng ngại bên ngoài, bên trong và bí mật và đạt được chiến thắng hoàn toàn nhờ gia trì của đạo sư và Tam Bảo. Bài Ca nhắc đến một Doha, một bài hát được ứng khẩu soạn ra bởi một bậc chứng ngộ với một cấp độ chứng ngộ nhất định. Trống Trời là trống lớn trong cõi trời Tam Thập Tam, sự xuất hiện của nó là nhờ công đức lớn của chúng sinh cõi trời.
Bài Ca Chiến Thắng này được miêu tả bằng ẩn dụ Diệu Âm Của Trống Trời bởi trống này có âm thanh tự nhiên, điều nghĩa là “Này tất cả chúng sinh cõi trời, đừng sợ hãi!”. Bởi khi chúng sinh cõi trời giao chiến với A Tu La, với sự giúp đỡ tuyệt vời của Trống Trời, họ có khả năng đánh bại A Tu La và giành chiến thắng. Do đó, tựa đề gợi ra sự tương đồng giữa Bài Ca Chiến Thắng và Diệu Âm Của Trống Trời. Bản văn ngắn gọn này chứa đựng tinh túy của tất cả giáo lý Kinh thừa và Mật thừa, cũng như chỉ dẫn cốt tủy vô cùng sâu xa từ cuộc đời hành trì của Ngài.
2. Bốn Khía Cạnh Chính Yếu Của Con Đường
Trong Ba Khía Cạnh Căn Bản Của Con Đường, Lama Tsongkhapa thảo luận ba khía cạnh chính, tức xả ly, Bồ đề tâm và trí tuệ bất nhị. Tuy nhiên, trong bản văn này, Kyabje Rinpoche tóm tắt toàn bộ con đường giác ngộ thành bốn khía cạnh chính, bao gồm khía cạnh bổ sung là tính cách thiện lành. Trí tuệ bất nhị cũng có thể được giải thích trong cả con đường Đại thừa và Kim Cương thừa. Trong Bài Ca Chiến Thắng, trí tuệ bất nhị được miêu tả từ quan điểm của Đại Viên Mãn, tức Dzogchen, cấp độ chứng ngộ cao nhất trong thực hành Kim Cương thừa, dựa trên tri kiến tính Không trong giáo lý Đại thừa.
Chứng ngộ Đại Viên Mãn là sự giác ngộ đáng khao khát nhất, xứng đáng được hành giả tâm linh mong cầu. Điều kiện tiên quyết cho sự giác ngộ như vậy là gì? Đó là Bồ đề tâm. Không có Bồ đề tâm, như Ngài Tịch Thiên nói trong Nhập Bồ Tát Hạnh, chẳng có cách nào để đạt được giác ngộ viên mãn, bất kể người ta có sở hữu công đức thù thắng đến đâu. Vậy làm sao Bồ đề tâm có thể khởi lên trong tâm? Để điều này xảy ra, người ta trước tiên cần sở hữu tâm xả ly, điều lại đến từ một tính cách thiện lành. Vì thế, trình tự thực hành cần phải là: một tính cách thiện lành để là người tốt, tâm xả ly để từ bỏ mọi bám chấp thế gian, nguyện Bồ đề tâm để dẫn dắt tất cả chúng sinh thành tựu Phật quả và cuối cùng, thực hành Dzogchen để đạt giác ngộ viên mãn trong một đời. Đây là bốn khía cạnh chính của con đường, điều được tóm tắt trong Bài Ca Chiến Thắng này.
B. Kính Lễ
Hiện thân trí tất cả Phật, đấng bảo hộ hữu tình,
Đức Văn Thù, vị xuất hiện là cậu bé trẻ trung,
Nguyện Ngài trụ mãi trong tim, trên nhụy sen tám cánh,
Gia trì từ ngữ con làm lợi tất cả hữu tình.
1. Lòng Sùng Mộ Chân Thành Với Đức Văn Thù
Trong đoạn kệ này, Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche đang nói rằng chư Phật của mọi thế giới khắp mười phương là những đấng bảo hộ của tất cả hữu tình chúng sinh và rằng hiện thân trí tuệ của tất cả chư Phật mười phương là Đức Văn Thù, vị xuất hiện là cậu bé trẻ trung để làm lợi lạc tất cả hữu tình chúng sinh. Vì thế, chúng ta cầu nguyện rằng Đức Văn Thù sẽ tràn ngập bông sen tám cánh trong tim chúng ta bằng ánh mặt trời rực rỡ, chan chứa gia trì của Ngài và sẽ trụ mãi mãi trong nhụy bông sen tim chúng ta. Và chúng ta cầu nguyện rằng, bằng sức mạnh từ lòng bi của Đức Văn Thù, từ ngữ của chúng ta có thể phổ quát làm lợi lạc tất cả hữu tình chúng sinh trên thế gian này.
Ở đây, một phép tương đồng được sử dụng giữa bông sen tám cánh và tim, điều có nhiều ý nghĩa bên ngoài, bên trong và bí mật trong Kim Cương thừa và sẽ không được thảo luận chi tiết vào lúc này.
Đây là một lời kính lễ đến Đức Văn Thù. Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche xem Văn Thù là vị Tôn chính yếu và sau khi trực tiếp diện kiến Đức Văn Thù tại Ngũ Đài Sơn[3], bất cứ khi nào Ngài soạn một bộ luận, trước tiên, Ngài luôn luôn kính lễ Đức Văn Thù. Điều này minh chứng niềm tin phi phàm của Ngài với Đức Văn Thù.
Ngài vốn luôn có kết nối thân thiết với Đức Văn Thù từ thời thơ ấu. Theo tiểu sử, Ngài đã tụng to Chân ngôn Văn Thù, Oṃ Arapacana Dhīḥ, khi là một bé sơ sinh, ngay sau khi chào đời. Lên sáu tuổi, Ngài tìm được một bản sao Văn Thù Sư Tư Ngữ, giấu trong một chồng đá, và nhận ra một đoạn kệ ở cuối, điều nói rằng có một người đàn ông ở Ấn Độ đã chín mươi chín tuổi. Sau chỉ một ngày thực hành, ông ấy đã đạt giác ngộ khi Đức Văn Thù xuất hiện trước ông.
Ngài nghĩ rằng, “Nếu một người già vậy có thể diện kiến Đức Văn Thù sau chỉ một ngày thực hành, tôi cần có khả năng thực hành và đạt giác ngộ mà không có bất kỳ vấn đề gì bởi tôi đang bắt đầu khi còn rất nhỏ”. Ngài rất vui mừng và đã thực hành hoàn toàn tập trung trong vài ngày. Kết quả là, Ngài trải qua nhiều dấu hiệu thành tựu và một cách tự nhiên, làm chủ tất cả kinh văn và luận giải trong Kinh điển và Mật điển.
Ngài thường nhấn mạnh rằng hành giả Giáo Pháp cần thường xuyên tụng Chân ngôn của Đức Văn Thù và cầu nguyện đến Đức Văn Thù, bởi so với những vị Phật khác, sức mạnh của gia trì từ Đức Văn Thù khá đặc biệt. Là chúng sinh bình phàm, chúng ta không thể xác định xem liệu gia trì của Phật Thích Ca Mâu Ni hay Bồ Tát Văn Thù mạnh hơn, nhưng cũng có thể đánh giá hợp lý theo các Kinh điển liên quan, bởi điều này được giải thích trong các Kinh điển liên quan.
Về bề ngoài, Văn Thù xuất hiện chỉ là một Bồ Tát. Nhưng dựa trên điều được nhắc đến trong các Kinh điển, Ngài thực sự đã thành tựu Phật quả từ rất lâu về trước và Ngài là hiện thân cho toàn bộ trí tuệ của chư Phật và Bồ Tát từ tất cả thế giới khắp mười phương và được xem là cha của tất cả chư Phật. Ngài dẫn dắt vô số hữu tình chúng sinh thành tựu Phật quả bằng cách thôi thúc họ phát Bồ đề tâm. Do đó, sức mạnh của gia trì từ Ngài thật diệu kỳ chẳng thể nghĩ bàn.
Mọi người có thể được lợi lạc từ gia trì của Đức Văn Thù. Điểm then chốt nằm ở việc liệu họ có niềm tin chân chính với Ngài hay không. Lần nọ khi tôi viếng thăm Ngũ Đài Sơn, tôi liên tục ngập tràn hy vọng rằng tôi sẽ diện kiến Đức Văn Thù và cuối cùng, mặc dù tôi không thể diện kiến, tôi khá chắc chắn rằng tôi đã thọ nhận chút gia trì, điều cho phép tôi học thuộc và tụng đầy đủ một số bản văn Giáo Pháp nhất định sau khi chỉ đọc chúng vài lần. Vì vậy, tôi thường nói rằng những người khác nhau có mức độ niềm tin khác nhau; nhưng miễn là họ được Đức Văn Thù gia trì, tất cả kinh văn và luận giải trong Kinh thừa và Mật thừa sẽ hiển bày trong tâm họ. Nếu họ liên tục cầu nguyện đến Đức Văn Thù, trí tuệ sẽ được ban cho họ đời này sang đời khác. Và cùng lúc, gia trì từ tất cả chư Phật có thể được hòa quyện và truyền vào dòng tâm của họ.
2. Một Câu Chuyện Tuyệt Vời Về Đức Văn Thù
Lần nọ, khi Đức Phật đang thuyết Pháp tại Linh Thứu, trong thành phố bên dưới ngọn núi có cô gái điếm tên là Tia Sáng Hoàng Kim Tuyệt Diệu. Cô ấy vô cùng xinh đẹp và cực kỳ quyến rũ. Nhưng diệu kỳ hơn là, toàn bộ thân cô tỏa ra ánh hoàng kim. Do đó, hoàng đế, thượng thư và tất cả nam giới đều bị cô ấy thu hút. Mặc dù cô chỉ là một gái điếm từ tầng lớp thấp kém, một đám đông lớn luôn bao quanh cô.
Ngày nọ, cô đi cùng với con trai của một thương nhân khi đi mua sắm ở chợ. Họ dự định vui chơi một chút tại khu giải trí. Dọc đường, Đức Văn Thù biến thành một chàng trai tuấn tú, bởi Ngài biết hoàn cảnh đã sẵn sàng để giác ngộ Tia Sáng Hoàng Kim Tuyệt Diệu. Toàn thân Ngài tỏa ra ánh sáng cực kỳ rực rỡ. Tia Sáng Hoàng Kim Tuyệt Diệu nhận thấy ánh sáng tỏa ra từ chàng trai vượt xa những tia sáng hoàng kim của cô và khi cô đứng trong ánh sáng của chàng trai, ánh sáng của cô phai nhạt. Cô trở nên ham muốn y phục của chàng và lập tức bỏ rơi con trai của thương nhân, nhảy khỏi cỗ xe mà họ đang đi và cố gắng quyến rũ chàng trai trẻ bằng vẻ đẹp của mình.
Khi ấy, Đức Văn Thù cho phép để Tỳ Sa Môn nói với Tia Sáng Hoàng Kim Tuyệt Diệu rằng, “Con không phải đố kỵ với chàng trai trẻ này, bởi Ngài là Bồ Tát Văn Thù, vị là tập hợp trí tuệ của tất cả chư Phật. Ngài có thể hoàn thành tất cả mong ước của con. Con cần gì?”. Tia Sáng Hoàng Kim Tuyệt Diệu nói rằng, “Con không cần gì ngoài y phục đẹp đẽ của Ngài”. Sau đó, Đức Văn Thù đáp rằng, “Nếu con có thể bước qua cánh cửa Bồ đề, Ta sẽ trao y phục của mình cho con”. Bởi cô ấy không hiểu điều đó nghĩa là gì, Đức Văn Thù bắt đầu trao cho cô ấy những chỉ dẫn chi tiết.
Tại Linh Thứu, Phật Thích Ca Mâu Ni cất lời tán thán, bảo rằng, “Lành thay!” trong lúc Văn Thù thuyết giảng, điều cực kỳ sâu xa và chấn động một tỷ vũ trụ. Đoàn tùy tùng hỏi Đức Phật tại sao Ngài lại nói vậy. Đức Phật đáp rằng, “Bồ Tát Văn Thù đang thuyết giảng Phật Pháp với lòng bi và trí tuệ để giác ngộ một cô gái điếm. Các con có thể đến đó nếu muốn nghe”. Nhiều đệ tử của Đức Phật đã đến nghe giáo lý của Văn Thù. Một số có được sự thanh tịnh của Pháp nhãn và thấy chân lý rõ ràng và thanh tịnh. Một số có được sự hiểu trọn vẹn về chân lý bất sinh; một số đạt được quả vị bất thối chuyển. Hàng vạn hữu tình chúng sinh được lợi lạc sau khi nghe giáo lý của Văn Thù.
Tia Sáng Hoàng Kim Tuyệt Diệu cũng phát triển một sự hiểu vững chắc về lý thuyết rằng chẳng gì thực sự tồn tại. Cô thực sự muốn đi theo Đức Văn Thù và sống cuộc đời như một vị Ni. Nhưng Đức Văn Thù bảo rằng con đường xả ly không nhất thiết phải là cạo đầu, mà thay vào đó, liên quan đến việc tinh tấn thực hành Phật Pháp và từ bỏ tư lợi vì lợi lạc của chúng sinh khác. Đức Văn Thù cũng khuyên cô trở về cỗ xe của con trai thương nhân và rời đi cùng cậu ấy.
Khi Tia Sáng Hoàng Kim Tuyệt Diệu và con trai của thương nhân trở về khu giải trí, họ đối diện với vô thường khi cô ấy qua đời trong vòng tay của chàng trai. Ban đầu, cậu ấy vô cùng buồn bã. Nhưng khi thân thể cô bắt đầu thối rữa, với máu và mủ chảy ra từ mắt, tai, lỗ mũi và miệng, và mùi hôi tỏa ra từ thân thể, con trai của thương nhân cực kỳ kinh hãi và chạy thẳng đến Linh Thứu để tìm kiếm sự bảo hộ từ Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Thích Ca Mâu Ni đã trao truyền Phật Pháp cho cậu ấy và cậu ấy hoàn toàn hiểu về chân lý bất sinh. Sau đó, Đức Phật tiên đoán rằng, “Bởi quán đỉnh của Bồ Tát Văn Thù khi khơi dậy động cơ trong cô ấy, Tia Sáng Hoàng Kim Tuyệt Diệu sẽ thành tựu Phật quả trong tương lai, hiệu là Trân Quý Quang Phật. Còn con trai của thương nhân sẽ trở thành Bồ Tát, đóng vai trò đại diện cho cô ấy, hiệu là Bồ Tát Thiện Quang”.
Con trai của thương nhân bối rối, “Tại sao đệ tử của Bồ Tát Văn Thù, Tia Sáng Hoàng Kim Tuyệt Diệu, lại thành tựu Phật quả? Còn con, đệ tử của Đức Phật, lại chỉ trở thành Bồ Tát”. Cậu ấy không thể hiểu nổi. Đức Phật đáp rằng, “Công đức của Bồ Tát Văn Thù thật chẳng thể nghĩ bàn. Ta cũng đã phát nguyện phát triển Bồ đề tâm lần đầu tiên trước Đức Văn Thù và vô số chư Phật quá khứ cũng vậy; vô số chư Phật hiện tại cũng vậy và vô số chư Phật tương lai cũng vậy”.
3. Động Cơ Đúng Đắn Để Thọ Giáo Lý
Ngài Jigme Phuntsok Rinpoche không soạn bản văn này để khỏi căn bệnh nặng, cũng không phải vì ham muốn trở nên giàu có hay bản thân được hạnh phúc. Thay vào đó, Ngài đã cầu nguyện gia trì của Đức Văn Thù để làm lợi tất cả chúng sinh, tạm thời hoặc rốt ráo, bằng từ ngữ và giáo lý của Ngài. Tương tự, chúng ta cũng cần kiểm tra động cơ của bản thân khi thọ giáo lý của Ngài. Một số người loay hoay mà chẳng có mục đích gì. Họ thấy người khác đi thọ giáo lý, vì thế, họ cũng đi theo mà chẳng có mục đích cụ thể nào. Trên thực tế, mục đích thọ nhận Giáo Pháp cần phải là làm lợi vô số hữu tình chúng sinh, chứ không phải chỉ vì lợi của bản thân. Mỗi hành giả cần điều chỉnh động cơ của bản thân tương ứng.
Bản Văn Chính Yếu
Khích Lệ Thực Hành Kim Cương Thừa
Khích Lệ Phát Bồ Đề Tâm
Khích Lệ Phát Tâm Xả Ly
Khích Lệ Phát Triển Tính Cách Thiện Lành
A. Khích Lệ Thực Hành Kim Cương Thừa
1. Công Đức Thực Hành Kim Cương Thừa Vô Song
Đại Viên Mãn sâu xa và chói ngời, chỉ nhờ nghe
Những đoạn kệ cũng cho phép phá gốc rễ luân hồi,
Và nhờ sáu tháng thực hành tinh túy, đạt giải thoát,
Cầu mong tất cả đều khắc ghi điều này trong tim!
a. Công Đức Tuyệt Diệu Của Dzogchen
Thật khó để người bình phàm hoàn toàn hiểu Dzogchen, tức Đại Viên Mãn, vô song, điều tuyên thuyết tinh túy chói ngời của Như Lai Tạng, và vì thế, những kẻ trí tuệ kém cỏi thường hay chỉ trích. Tuy nhiên, người ta có thể cắt đứt nguyên nhân gốc rễ của luân hồi đơn giản nhờ lắng nghe những đoạn kệ của Dzogchen, và những vị thượng căn có thể đạt giải thoát nếu họ thực hành tinh túy của Dzogchen tinh tấn trong sáu tháng. Vì thế, chúng ta đều cần tìm cách khắc ghi Đại Viên Mãn này sâu trong tim.
Đại Viên Mãn là tinh túy của tất cả Kinh điển và Mật điển và công đức của nó chẳng thể nào miêu tả. Người ta có thể đạt giải thoát chỉ đơn thuần nhờ nghe được từ ngữ, chạm vào bản văn, gắn chúng trên thân hay hiểu ý nghĩa của chúng. Theo Tứ Bách Kệ Tụng Trung Đạo của Tôn giả Thánh Thiên, những người có nghi ngờ về tính Không vẫn có thể phá vỡ sự tồn tại xoay vòng của tam giới. Điều này thậm chí còn đúng hơn với những vị học hỏi Kim Cương thừa vô song.
Nếu ai đó với niềm tin phi phàm và sự xác quyết mạnh mẽ thực hành Dzogchen bằng cách tuân theo trình tự là thực hành sơ khởi, chính yếu và hoàn mãn, người này có thể đạt giải thoát trong sáu tháng. Mật Điển Vajra Pañjara tuyên bố rằng, “Nếu người ta thực hành trong sáu tháng với niềm tin và sự xác quyết không dao động, họ sẽ có thể đạt được quả vị của Kim Cương Trì”. Lời Thề Linh Thiêng Của Mật Thừa có nhắc đến rằng, “Với niềm tin và xác quyết quyết tâm, người ta sẽ đạt được quả vị của Kim Cương Trì trong sáu tháng”. Điều này cũng được tuyên bố trong Chetsun Nyingtik và Longchen Nyingtik.
Do đó, Đại Viên Mãn thực sự siêu việt. Jamgon Mipham nói trong giáo lý của Ngài rằng, “Trong thời suy đồi này, hữu tình chúng sinh bị phiền não sâu sắc và nặng nề đè nặng, điều không thể dễ dàng được dịu bớt nhờ các Giáo Pháp khác. Nhưng họ có thể hoàn toàn vứt bỏ mọi phiền não bằng Đại Viên Mãn vô song”.
Ở đây, Kyabje Rinpoche bảo chúng ta rằng bởi Đại Viên Mãn phi phàm đến vây, chúng ta không được từ bỏ hay phỉ báng. Nếu người ta thực sự không thể phát khởi niềm tin với nó, cứ bỏ qua hoặc trình bày những nghi ngờ với chư đạo sư chân chính là điều chấp nhận được. Tuy nhiên, họ không được hình thành những tư tưởng tiêu cực về Kim Cương thừa mà không có lý do thích hợp.
b. Tấm Gương Tuyệt Vời Về Một Hành Giả Dzogchen
Cá nhân tôi từng chứng kiến vài hành giả Dzogchen, vị đạt được sự chứng ngộ Dzogchen và có những hiển bày cát tường trước khi chết. Và tôi đặc biệt ấn tượng với một Tỳ Kheo Ni người Hán – Minh Huệ. Sau đây là câu chuyện về Sư Cô.
Minh Huệ có niềm tin lớn lao với Kim Cương thừa. Ban đầu, Sư Cô đang điều trị bệnh ở vùng Hán. Sau đó, Cô nghe nói rằng Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche sắp giảng Dzogchen tại Larung Gar. Cô nhận ra sự vô thường của cuộc đời và chẳng biết còn sống được bao lâu, Cô quyết định trở về Larung Gar để thọ nhận giáo lý. Ngài đã thuyết giảng về An Trú Trong Bản Tính Tâm của Tôn giả Longchenpa trong khoảng 100 ngày và Cô đã tinh tấn học hỏi trong giai đoạn đó.
Vào ngày 01 tháng 09 năm 1993, sau khi khóa giảng dạy kết thúc, Cô trở về vùng Hán để tiếp tục nhận điều trị từ bác sĩ. Vào ngày 01 tháng 03 năm 1994, người chăm sóc và Pháp hữu của Cô – Tỳ Kheo Ni Chân Như đã gọi điện cho tôi từ Tu viện Kim Phụng, nơi mà họ đang sống và nói rằng Minh Huệ đã qua đời và lúc qua đời, Cô ngồi trong tư thế uy nghiêm, cầu nguyện đến đạo sư truyền thừa và Phật Vô Lượng Quang. Khi thân thể Cô bắt đầu thu nhỏ, vô số điềm cát tường cũng xuất hiện. Đó chính xác là sáu tháng kể từ khi các bài giảng kết thúc cho đến ngày Cô viên tịch, không hơn hay kém một ngày. Đây thực sự là một sự kiện vô cùng hiếm có.
Tỳ Kheo Ni Minh Huệ không xuất hiện là một vị vô cùng thông tuệ; tuy nhiên, niềm tin của Cô thực sự rất mạnh mẽ. Điều kiện tiên quyết, với những vị thượng căn, để thực hành Đại Viên Mãn chủ yếu là niềm tin và sự xác quyết của họ. Những vị có niềm tin mạnh mẽ nhất với chư đạo sư của họ và với Tam Bảo, và đặc biệt là Kim Cương thừa, người sẽ không từ bỏ niềm tin dù trong những giây phút cuối đời, thực sự sẽ đạt được thành tựu lớn. Do đó, Kyabje Rinpoche nói rằng, “Rất khó để gặp được Đại Viên Mãn trong thời suy đồi này, bởi đó là con đường phi phàm đến vậy”. Chúng ta phải giữ vững những lời này trong tim.
c. Thực Hành Sơ Khởi Của Dzogchen
Nhiều hành giả Kim Cương thừa ngày nay tin rằng họ phải nương tựa vào sự thanh tịnh nguyên sơ hay tịnh quang để khám phá bản tính chân thật của tâm họ một cách hiệu quả. Thực sự, là hành giả bình thường, chúng ta phải bắt đầu bằng thực hành sơ khởi và sau đó có thể được phép để tiến hành thực hành chính yếu. Tôn giả Longchenpa, Jamgon Mipham và Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche đều đưa ra những yêu cầu nghiêm khắc cho sự hành trì Dzogchen. Điều trọng yếu là tuân thủ trình tự của thực hành; nếu không, người ta sẽ vật lộn để đạt được sự chứng ngộ thích hợp. Điều đó giống như cố vẽ những họa tiết đẹp đẽ trên tường của một tòa nhà khi mà nền móng vẫn chưa ổn định. Nguy cơ là sau một hồi, toàn bộ tòa nhà sẽ sụp đổ. Vì thế, chúng ta chỉ nên bắt đầu vẽ trên tường sau khi nền móng đã ổn định và an toàn.
2. Những Điều Kiện Để Thực Hành Kim Cương Thừa
Kẻ có phước báu lớn gặp giáo lý thù thắng này
Từng tích công đức trong đời trước qua vô số kiếp,
Sở hữu cùng điều kiện giác ngộ như Phật Phổ Hiền,
Này các Pháp hữu, cầu mong tất cả đều hoan hỷ!
a. Những Điều Kiện Giống Như Phật Phổ Hiền
Ở đây, “giáo lý thù thắng” nhắc đến giáo lý vĩ đại của Dzogchen và “kẻ có phước báu lớn” nhắc đến những vị từng thọ quán đỉnh hoặc nghe giáo lý của Đại Viên Mãn, hay những vị có kết nối cát tường tương tự với Dzogchen. Kyabje Rinpoche nói rằng, “Với những vị có cơ hội gặp được Đại Viên Mãn, đó là kết quả của công đức tích lũy qua nhiều đời. Có thể gặp được giáo lý vĩ đại như vậy thì giống như có hoàn cảnh nghiệp tương tự với Phật Phổ Hiền, một trường hợp đáng hoan hỷ và vui vẻ”.
Tất cả chúng ta đều có phước báu trong đời này để gặp được chư đạo sư, thọ giáo lý về Kim Cương thừa và thọ quán đỉnh cũng như chỉ dẫn cốt tủy. Những cuộc gặp gỡ tuyệt diệu như vậy với Kim Cương thừa là kết quả của thiện nghiệp tích lũy trong vô số đời trước. Tôn giả Longchenpa đưa ra hai kết luận trong Kho Tàng Thừa Thù Thắng:
(i) Bởi chúng ta đã gặp được Kim Cương thừa vô song trong đời này, chúng ta chắc hẳn từng dâng cúng dường và thân cận vô số chư Phật, và cũng từng là môn đồ hay đệ tử của chư vị trong những đời quá khứ.
(ii) Bởi chúng ta đã gặp được Kim Cương thừa vô song, chúng ta dứt khoát sẽ đạt chứng ngộ trong đời hiện tại, trong Bardo hoặc trong một đời tương lai.
Vì thế, theo những kết luận từ lô-gích Phật giáo, nếu người ta đã nghe và nghiên cứu Kim Cương thừa, người này phải sở hữu một kết nối siêu việt với Kim Cương thừa. Chúng ta thực sự đang có hoàn cảnh tương tự với Phật Phổ Hiền, điều cho phép chúng ta gặp được Dzogchen trong đời hiện tại. Chính bởi Pháp Mật thừa siêu việt này mà Phổ Hiền đã thành tựu trạng thái tự giải thoát trong một sát na. Tích lũy thiện nghiệp trong vô số đời trước thì chúng ta mới gặp được giáo lý thù thắng này.
Kinh Bát Nhã Ba La Mật có nói rằng, một người bị lạc và lang thang trong khu rừng sẽ có cảm giác rằng anh ta đang ở gần một khu làng khi thấy một người chăn gia súc. Nhờ thấy một người chăn gia súc, anh ta biết rằng anh ta có thể bỏ lại nỗi sợ hãi bị lạc. Tương tự, khi chúng ta đã gặp được một đạo sư kim cương, vị dẫn dắt chúng ta trên con đường Kim Cương thừa, giống như con cá đã mắc câu và chắc chắn sẽ bị kéo lên bờ, chúng ta sẽ nhanh chóng được giải thoát.
b. Đừng Phá Vỡ Giới Luật Của Kim Cương Thừa
Tuy nhiên, nếu người ta phỉ báng Kim Cương thừa hay phản bội đạo sư và giáo lý, những kết quả sẽ rất nghiêm trọng. Giới luật của Kim Cương thừa vô cùng nghiêm khắc và nếu phá vỡ, người ta thực sự sẽ tích lũy ác nghiệp, điều có thể dẫn họ đến cõi thấp. Điều này không chỉ áp dụng với giới luật Kim Cương thừa, mà cả Bồ Tát giới cũng như giới của Phật tử cư sĩ, điều cũng rất nghiêm ngặt. Nếu hôm nay người ta quy y Tam Bảo rồi chỉ trích Tam Bảo vào ngày mai, họ dứt khoát sẽ chìm vào ba cõi thấp. Vì thế, Kyabje Rinpoche nói trong giáo lý khác rằng miễn là người ta không phá giới trong đời hiện tại, họ sẽ thành tựu trong đời sau ngay cả khi không thực hành tinh tấn. Hành giả Kim Cương thừa phải quyết tâm giữ giới trong chính đời này.
B. Khích Lệ Phát Bồ Đề Tâm
1. Những Lý Do Để Phát Bồ Đề Tâm
Vì mọi hữu tình chìm trong biển luân hồi đáng sợ,
Để giúp họ đạt hạnh phúc vĩnh cửu của Phật quả,
Con cần nhận trách nhiệm làm lợi chúng sinh khác và
Từ bỏ đồ ăn độc là bám chấp vào bản thân.
a. Tại Sao Chúng Ta Cần Nhận Trách Nhiệm Vị Tha?
Chúng ta phải nhận trách nhiệm lớn lao của việc làm lợi lạc chúng sinh khác bằng cách vứt bỏ bám chấp nguy hiểm mà không hữu ích với cái ngã của bản thân, để giúp đỡ hữu tình chúng sinh trong nỗi kinh hãi tuần hoàn của luân hồi đạt được hạnh phúc rốt ráo của Phật quả.
Luân hồi nghĩa là lang thang hay trôi lăn không gián đoạn. Có sáu cõi trong luân hồi, tức chư thiên, A Tu La, con người, súc sinh, ngạ quỷ và chúng sinh địa ngục. Tất cả những chúng sinh này lang thang trong sáu cõi. Một số được nâng lên ba cõi cao, nơi mà khổ đau không ghê gớm lắm. Nhưng một số có thể liên tục bị kéo vào vực thẳm của ba cõi thấp bởi ác nghiệp của chính họ. Như Nhập Trung Đạo của Tôn giả Nguyệt Xứng có nói:
Chúng sinh ban đầu nghĩ “tôi” và chấp vào ngã;
Họ nghĩ đến “của tôi’ và bám chấp với các hiện tượng.
Do đó, họ quay vô vọng như guồng nước;
Đến lòng bi mẫn với chúng sinh như vậy, con đỉnh lễ!
Dựa trên những giáo lý chân chính và nhận thức cá nhân của chư Phật và Bồ Tát giác ngộ, chúng ta có thể thấy rõ ràng rằng tất cả chúng sinh mê lầm trước kia từng là cha mẹ chúng ta và hiện nay đang đau khổ. Họ từng cẩn thận quan tâm và chăm sóc chúng ta đến mức chúng ta và họ kết nối chặt chẽ với nhau. Dẫu họ hiện tại không nhận ra chúng ta, bất kỳ ai có lương tâm sẽ chẳng bao giờ bỏ mặc họ để theo đuổi an bình và hạnh phúc của bản thân, mà sẽ tìm cách trao cho họ càng nhiều an bình và hạnh phúc càng tốt. Tức là, giải thoát họ mãi mãi khỏi đại dương đáng sợ của luân hồi và thành tựu giác ngộ thù thắng.
Vì thế, chúng ta cần nhận trách nhiệm giúp đỡ họ có được hạnh phúc tạm thời bằng cách cung cấp cho họ đồ ăn và y phục tốt, trong khi cùng lúc, dẫn dắt họ đạt được hạnh phúc rốt ráo nhờ sự chứng ngộ của A La Hán, Bồ Tát và Phật. Càng nhiều càng tốt, chúng ta phải thoát khỏi độc, tức là sự ích kỷ, để tránh quả báo nghiêm trọng với bản thân. Nhập Bồ Tát Hạnh của Tôn giả Tịch Thiên tuyên bố rằng:
Nếu tôi làm hại kẻ khác để phục vụ bản thân,
Về sau tôi sẽ đau khổ trong các cõi địa ngục.
Nếu tôi làm hại bản thân vì lợi kẻ khác,
Mọi xuất sắc sẽ là di sản của tôi.
b. Hãy Từ Bỏ Bám Chấp Với Bản Thân Như Từ Bỏ Độc
Khi Ra Lotsawa đang thiền định về vị Tôn ở chốn yên tĩnh, Ngài nhận ra rằng Ngài muốn nhập thất cô tịch như vậy suốt cuộc đời. Nhưng ngày nọ, vị Tôn của Ngài bảo rằng, “Con cũng cần ra ngoài làm lợi chúng sinh. Công đức của ngay cả một khoảnh khắc ngắn ngủi khi làm vậy cũng lớn hơn nhiều việc tinh tấn thiền định về vị Tôn trong sự cô tịch yên tĩnh trong hàng tỷ kiếp”. Do đó, công đức của vị tha và giúp đỡ chúng sinh khác thì lớn hơn nhiều việc sám hối ích kỷ trong vô số năm.
Nhập Bồ Tát Hạnh của Tôn giả Tịch Thiên cũng nói rằng:
Tất cả niềm vui của thế gian này đều
Đến từ mong muốn hạnh phúc cho kẻ khác.
Tất cả khổ đau của thế gian này đều
Đến từ mong muốn lạc thú cho bản thân.
Vì thế, chúng ta không được để Bồ đề tâm của mình biến mất trong quá trình thực hành. Patrul Rinpoche cũng nói rằng, “Nếu con thực hành Đại Viên Mãn vô song mà không có tiền đề là Bồ đề tâm, nó sẽ trở thành thực hành của Tiểu thừa hay ngoại đạo”.
Đấy là lý do Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche nói rằng ích kỷ giống như độc, một ẩn dụ tuyệt vời mà chúng ta cần thường xuyên quán chiếu. Những người có sự ích kỷ ghê gớm cuối cùng sẽ thất bại, bất kể họ ở đâu. Đa phần những tranh cãi, phiền não và cãi cọ của chúng ta là sản phẩm của sự ích kỷ, điều sẽ không xuất hiện nếu chúng ta vị tha. Do đó, chúng ta cần nỗ lực hướng về mục tiêu này, để trở thành Bồ Tát chân chính.
Thực sự, chúng ta không nên để tâm nhiều đến điều mà người khác nói; mà thay vào đó, cứ làm bất cứ điều gì có thể để làm lợi chúng sinh khác khi chúng ta vẫn còn sống và có khả năng. Việc người khác có biết chúng ta đang làm hay không cũng chẳng sao. Tôi tin rằng một số chuyện mà chúng ta làm không được người khác biết đến trong cuộc đời chúng ta, nhưng tất cả chư Phật và Bồ Tát, cũng như chư đạo sư của chúng ta, sẽ biết rõ. Luật nhân quả sẽ luôn chiến thắng. Vì vậy, giúp đỡ chúng sinh khác vì danh tiếng của bản thân thì chẳng hữu ích gì. Thay vì bị ô nhiễm bởi mọi kiểu bận tâm thế tục, chúng ta cần hoàn toàn quyết tâm cố gắng hết sức để làm lợi chúng sinh khác.
2. Công Đức Của Việc Phát Bồ Đề Tâm
Điều này chặn cánh cổng dẫn đến các cõi thấp hơn,
Cho phép con đạt được hạnh phúc của cõi cao hơn,
Cuối cùng dẫn đến giải thoát rốt ráo khỏi luân hồi,
Hãy thực hành giáo lý cốt yếu này không xao lãng.
a. Công Đức Của Bồ Đề Tâm
Công đức của việc phát Bồ đề tâm bao gồm: đóng cánh cổng dẫn đến các cõi thấp hơn, giúp chúng ta được an bình và hạnh phúc tạm thời, tương đối trong các cõi cao hơn của con người và chư thiên, và cho phép chúng ta rốt ráo đạt giải thoát khỏi luân hồi. Với sự hiểu như vậy, mỗi hành giả Giáo Pháp cần tập trung vào thực hành giáo lý cốt yếu này.
Công đức của Bồ đề tâm, Bồ đề tâm nguyện hoặc Bồ đề tâm hạnh, thì vô lượng vô biên. Điều này được nhắc đến trong Tập Học Luận, Nhập Bồ Tát Hạnh và nhiều Kinh điển Đại thừa khác. Nói một cách đơn giản, công đức của Bồ đề tâm có thể hiển bày theo hai cách:
(i) Nếu người ta phát Bồ đề tâm chân chính, tất cả ác nghiệp có thể được tiêu trừ khỏi dòng tâm, kết quả là, những cánh cửa đến cõi thấp bị chặn lại. Tôn giả Tịch Thiên nói rằng:
Giống như lửa cháy lúc kết thúc thời kỳ,
Những trọng tội cũng hoàn toàn bị Bồ đề tâm thiêu trụi.
Do đó, những lợi lạc là vô biên,
Như Bảo Hộ Từ Thị thông tuệ giải thích cho Thiện Tài.
Những trọng tội ở đây ám chỉ ác nghiệp nặng nề, thứ khó tịnh hóa, chẳng hạn những gì được tích lũy bởi Ngũ Nghịch Tội, hoặc bằng cách chỉ trích Giáo Pháp. Nhưng chúng đều có thể được tiêu trừ vào khoảnh khắc Bồ đề tâm khởi lên trong tâm, giống như lửa lúc kết thúc thời kỳ thiêu trụi toàn bộ thế giới. Nếu ác nghiệp được tịnh hóa, sẽ chẳng có cơ hội đọa vào cõi thấp.
Do đó, Kyabje Rinpoche nói rằng một người có Bồ đề tâm không thể nào đọa vào cõi thấp. Chúng ta phải cố gắng hết sức để phát Bồ đề tâm trước khi chết và phải đảm bảo rằng Bồ đề tâm của chúng ta không bị hư hại sau khi nó đã khởi lên. Theo cách này, chúng ta sẽ tránh khỏi việc tái sinh vào cõi thấp.
(ii) Với Bồ đề tâm, những thiện căn sẽ trở nên ngày càng mạnh mẽ hơn. Kết quả là, người ta có thể được tái sinh làm con người hay vị thiên để tận hưởng tất cả an bình và hạnh phúc tạm thời của các cõi cao hơn. Hơn thế nữa, họ có thể hoàn thiện mọi công đức của năm con đường và mười địa, và thành tựu quả vị vô song và rốt ráo của Phật quả.
Vì thế, những lợi lạc của Bồ đề tâm thực sự lớn lao với chúng sinh. Tôn giả Tịch Thiên cũng nói rằng:
Cam lồ tiêu trừ khổ đau,
Nhân vui cho những kẻ lang thang khắp thế gian –
Thái độ quý báu này, ngọc báu này của tâm,
Làm sao nó có thể được đo lường hay đánh giá?
b. Kết Luận Của Chư Phật
Đó chính là kết luận mà chư Phật đưa ra sau khi quán chiếu lâu dài, bằng trí tuệ vô song của chư vị, trong vô số kiếp. Giống như một số nhà khoa học chuyên tâm nghiên cứu trong thời gian dài, để họ có thể phát minh ra điều gì đó mà họ tin là sẽ làm lợi lớn cho toàn bộ nhân loại. Tương tự, Đức Phật đã khám phá ra rằng Bồ đề tâm sẽ đem đến lợi lạc lớn nhất cho tất cả chúng sinh. Sau những quán chiếu lặp đi lặp lại trong khoảng thời gian dài, Ngài thấy rằng vô lượng chúng sinh có thể đạt được quả vị thù thắng của Phật quả bằng cách phát khởi Bồ đề tâm trong tâm. Vì thế, Tôn giả Tịch Thiên nói rằng:
Chư Phật oai hùng, quán chiếu sâu sắc trong nhiều kiếp,
Thấy rằng điều này và chỉ điều này
Sẽ cứu vô lượng các tập hội
Và đưa họ dễ dàng đến hỷ thù thắng.
Do đó, Kyabje Rinpoche khuyến khích tất cả đệ tử của Ngài trưởng dưỡng Bồ đề tâm và thực hành giáo lý cốt yếu này không xao lãng. Chúng ta không được phép để tâm bị tám bận tâm thế tục cám dỗ và mất phương hướng. Chúng ta phải thiết tha thực hành chỉ dẫn cốt tủy về Bồ đề tâm, bởi nó là cách tiếp cận quan trọng và quý báu nhất trong tất cả các thực hành.
C. Khích Lệ Phát Tâm Xả Ly
1. Công Đức Của Việc Giữ Giới
Với tất cả những sự kiện hoành tráng trong luân hồi,
Đừng có bất kỳ ý nghĩ ham muốn nào, mà hãy
Trì giới thanh tịnh, trang sức uy nghiêm của thế gian,
Điều mà con người – chư thiên dâng cúng dường thù thắng.
a. Tâm Xả Ly Chân Chính
Để đạt được giải thoát rốt ráo khỏi luân hồi, chúng ta không được có ngay cả ý nghĩ ham muốn nhỏ nhất với những hào nhoáng giả tạo và của cải trong thế giới bình thường này. Thay vào đó, chúng ta cần tận tâm giữ gìn giới luật thanh tịnh, điều mà con người và chư thiên dâng lên những cúng dường siêu việt của họ.
Với những vị hy vọng thoát khỏi sự đầu thai và đạt được giải thoát, việc đạt được danh tiếng, sức mạnh, địa vị xã hội cao và sự thích thú giác quan hoàn toàn vô nghĩa và không nên khuấy động bất kỳ ham muốn nào trong họ. Nếu họ chân thành xem xe hơi và lâu đài xa hoa như thể chúng chỉ là những đối tượng trong một giấc mơ, ảo ảnh hay bong bóng, và thực sự cảm thấy tam giới chỉ là ngôi nhà bốc cháy mà chẳng có chút hỷ lạc thoáng qua nào, họ đã khởi lên tâm xả ly chân chính.
Tuy nhiên, lúc đầu, nhiều người giống như Nan Đà (em cùng cha khác mẹ của Đức Phật) và có nhiều khó khăn trong việc hoàn toàn từ bỏ những khát khao và bám chấp với đời sống thế tục. Nhưng nếu chúng ta bền bỉ nghiên cứu giáo lý Phật, cuối cùng, chúng ta sẽ biết về tính bấp bênh của luân hồi và phát khởi thêm xả ly trong chính mình.
Vậy phát khởi tâm xả ly chân chính thế nào? Chẳng có cách tiếp cận nào tốt hơn việc quán chiếu về bốn ý nghĩ chuyển tâm khỏi luân hồi: (i) tính quý báu của việc được sinh ra làm người; (ii) sự vô thường của cuộc đời; (iii) những thiếu sót của luân hồi; và (iv) sự không sai trệch của luật nhân – quả. Sau khi hoàn thành bốn thực hành sơ khởi phổ thông, sự xả ly chân chính gần như chắc chắn sẽ khởi lên trong dòng tâm chúng ta. Khi ấy, chúng ta sẽ liên tục mong mỏi giải thoát khỏi luân hồi, giống như tù nhân tuyệt vọng mong muốn được thoát khỏi nhà tù. Lama Tsongkhapa trong Ba Khía Cạnh Căn Bản Của Con Đường nói rằng:
Tự do và thuận duyên thật khó được
Và cuộc đời chẳng có thời gian dư thừa.
Bằng cách trở nên quen thuộc với điều này,
Sức hấp dẫn của những hình tướng đời này bị đảo ngược.
Bằng cách suy nghĩ lặp đi lặp lại nhiều lần
Rằng hành động và kết quả của chúng là không sai trệch,
Và nhiều lần quán chiếu về khổ đau của sự tồn tại xoay vòng,
Sức hấp dẫn của những hình tướng đời sau bị đảo ngược.
Bằng cách rèn luyện theo cách đó, khi mà
Sức hấp dẫn của những lạc thú trong sự tồn tại xoay vòng
Chẳng hề khởi lên dù chỉ trong khoảnh khắc,
Và cả ngày lẫn đêm, ý định mong cầu giải thoát khởi lên –
Thì ý nghĩ xả ly đã được phát khởi.
b. Trang Sức Uy Nghiêm Trong Thế Gian
Sau khi phát khởi xả ly, chúng ta phải thọ và giữ giới thanh tịnh, điều chính là trang sức uy nghiêm nhất trong thế gian và là điều mà con người và chư thiên dâng cúng dường. Các giới luật là nền tảng của mọi phẩm tính thiện lành. Điều này được tuyên bố rõ ràng trong Kinh Biệt Giải Thoát rằng, “đó là câu cầu để đi đến những đích đến tốt đẹp”. Việc tu sĩ Phật giáo đeo trang sức, chẳng hạn bông tai và vòng tay, là điều vô cùng không phù hợp. Nhưng hành giả với giới luật vô cấu nhiễm, điều lại chính là trang sức trang nghiêm nhất, xứng đáng với sự đỉnh lễ, tôn kính và cúng dường từ con người và chư thiên.
Tất cả hữu tình chúng sinh có căn cơ khác nhau để thọ nhận mức độ giới luật tương ứng. Với những vị có tâm xả ly mạnh mẽ hơn, họ có thể xuất gia rồi thọ giới Sa Di và giới Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni. Nhưng nếu hoàn cảnh không cho phép họ rời nhà và gia nhập cộng đồng tu sĩ, ít nhất, họ cần giữ gìn một trong năm giới cho hành giả cư sĩ hoặc thọ giới quy y được dẫn dắt bởi tâm xả ly. Hành giả gần như không thể nào tích lũy bất kỳ công đức nào nếu không cẩn thận giữ gìn bất kỳ giới nào trong các giới này. Thư Gửi Bạn của Tôn giả Long Thọ có tuyên bố rằng:
Hãy giữ giới không bị phá vỡ, không bị thoái hóa,
Không hư hỏng và thoát khỏi ô nhiễm.
Giống như trái đất là nền móng cho mọi thứ đứng yên hay di chuyển,
Người ta nói rằng mọi điều tốt đẹp đặt nền tảng trên trì giới.
Trái đất là nền tảng cho tất cả trên hành tinh này. Tương tự, tất cả công đức sinh ra trên nền tảng của giới luật. Nếu người ta không thọ và giữ bất kỳ giới nào, sẽ rất khó để người đó tái sinh làm người hay vị thiên, chứ đừng nói đến chuyện đạt giải thoát. Đấy là lý do trong Ba Mươi Bảy Thực Hành Của Bồ Tát, Ngài Thogme Zangpo nói rằng:
Nếu thiếu trì giới, người ta không thể thành tựu tư lợi,
Thì thật buồn cười khi nghĩ đến thành tựu tha lợi.
Vì thế, trì giới mà không có những động cơ luân hồi
Là thực hành của một vị Bồ Tát.
2. Lỗi Lầm Của Việc Phá Giới
Bởi tất cả hạnh phúc tạm thời cũng như rốt ráo
Đến từ việc giữ gìn giới luật thanh tịnh trong khi
Phá giới dẫn đến tái sinh vào trong các cõi thấp,
Con phải lựa chọn đúng và không rơi vào vô minh.
Lợi lạc tạm thời của việc tái sinh vào cõi của con người và chư thiên cũng như hạnh phúc rốt ráo của giác ngộ và giải thoát đều đến từ việc trì giới thanh tịnh. Nếu người ta phá giới và không hoàn toàn ăn năn, họ dứt khoát sẽ đọa vào một trong ba cõi thấp. Vì vậy, điều bắt buộc là hành giả lựa chọn đúng trong hành vi của bản thân để tránh rơi vào vô minh.
Kinh Biệt Giải Thoát tuyên bố rằng đích đến duy nhất cho những kẻ phá giới là ba cõi thấp, tức cõi của chúng sinh địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh. Theo đó, trong Kinh Bát Nhã Ba La Mật Cô Đọng cũng tuyên bố rằng, “Những kẻ phá giới chẳng thể nào giúp đỡ bản thân, chứ đừng nói đến chuyện làm lợi chúng sinh khác”.
Trì giới thanh tịnh đang ngày càng trở nên khó khăn hơn trong thời suy đồi này. Đặc biệt, hành giả tu sĩ đang ngày càng gặp khó khăn trong việc tuân theo giới luật vô cấu nhiễm trong thời đại thông tin thương mại hóa cao hiện nay. Ti vi, máy tính xách tay và điện thoại di động mang lại sự kích thích giác quan liên tục và cám dỗ không ngừng nghỉ. Kết quả là, nhiều người không có xả ly chân thật trong tâm và rất hiếm người có thể sống ở những nơi xa xôi và cô tịch, hoàn toàn tập trung vào thực hành Giáo Pháp như chư hành giả thời xa xưa từng làm.
Vì thế, nếu người ta có một mức độ xả ly nhất định và ham muốn chân thành về việc đạt giác ngộ, thọ Tam Quy và trì Ngũ Giới là điều khá cần thiết. Trong trường hợp người ta từng phá vỡ bất kỳ giới nào trong các giới này, họ cần thọ lại chúng từ một đạo sư đủ phẩm tính.
Lý do là: giống như hoa, cỏ và cây cối chỉ có thể mọc lên từ đất, tất cả công đức mọc lên và phát triển trên nền tảng của giới luật. Trong bản văn Con Đường Chính Yếu Đến Giác Ngộ, Lama Tsongkhapa cụ thể nhắc đến một giáo lý trong các Kinh điển, điều nói rằng trong thời suy đồi, công đức của ngay cả việc giữ giới Bát Quan Trai cũng vượt xa công đức dâng cúng dường đến chư Phật và Bồ Tát trong hàng nghìn triệu kiếp. Vì vậy, chúng ta không được nhầm lẫn và bỏ lỡ mục tiêu trong thời suy đồi này. Chúng ta cần cực kỳ cẩn trọng trong những lựa chọn khi chấp nhận các nhân và duyên, thứ sẽ bảo vệ giới luật của chúng ta, và từ bỏ những nghịch duyên, thứ sẽ dẫn chúng ta đến phá giới. Đây cần phải là mục tiêu mà tất cả chúng ta đều hướng đến!
D. Khích Lệ Phát Triển Tính Cách Thiện Lành
1. Những Lý Do Để Phát Triển Tính Cách Thiện Lành
Luôn hòa hợp với bạn bè về thái độ – hành động,
Hãy là một người chính trực, ngập tràn lòng tốt bụng.
Để làm lợi lạc chính bản thân về lâu về dài,
Chỉ dẫn cốt tủy là hiện tại làm lợi kẻ khác.
a. Tầm Quan Trọng Của Tính Cách Thiện Lành
Tính cách thiện lành nghĩa là chúng ta phải luôn luôn kính trọng các thành viên gia đình và bạn bè trong điều mà chúng ta nói và làm; tử tế và hành xử với sự chính trực; và nếu chúng ta muốn làm lợi bản thân về lâu về dài, chìa khóa là làm lợi chúng sinh khác trong khoảnh khắc hiện tại.
Thực hành Pháp đòi hỏi tính cách thiện lành. Đây là giáo lý cốt yếu được tóm tắt bởi Kyabje Rinpoche qua nhiều năm thuyết giảng. Ngài yêu cầu rằng bất kỳ ai tu học tại Larung Gar phải tuân theo ba quy tắc, tức là (i) trưởng dưỡng tính cách thiện lành, (ii) giữ giới thanh tịnh, (iii) lắng nghe, quán chiếu và thiền định về Giáo Pháp.
Bất kể họ nghiên cứu giáo lý Đại thừa hay Kim Cương thừa, điều bắt buộc là có tính cách thiện lành; nếu không, tiến bộ trong thực hành Pháp là điều không thể. Jamgon Mipham trong Những Lời Về Cách Thức Thế Gian Và Xuất Thế Gian có nói rằng:
Các quy tắc thế gian là nền tảng của Phật Pháp;
Nếu người ta không hành xử cao quý trong thế gian,
Họ sẽ chẳng bao giờ nắm bắt được nguyên tắc thù thắng của Phật Pháp,
Chứ đừng nói đến chuyện thành tựu giác ngộ.
b. Tính Cách Thiện Lành Là Gì?
Trong đoạn kệ này, Kyabje Rinpoche xác định những tiêu chuẩn sau đây cho một tính cách thiện lành và mong chúng ta ghi nhớ kỹ.
“Luôn hòa hợp với bạn bè về thái độ – hành động”. Chúng ta phải luôn luôn hòa hợp an bình với các thành viên gia đình và bạn bè bất kể tuổi tác và địa vị của họ. Từ quan điểm thế tục, một người với tính cách tốt kính trọng những vị có địa vị cao hơn, bi mẫn với những vị kém hơn và hòa hợp hài hòa với những vị ngang bằng.
Có một ẩn dụ ở vùng Tây Tạng: “Khi trăm con Yak đều đang leo lên đồi, Gaba (một kiểu Yak thấp kém hơn) chạy xuống đồi”. Đây là hình ảnh rất sống động. Một người có tính cách xấu luôn luôn xung đột với người khác về hành vi. Mọi người đều thấy nhẹ nhõm khi ai đó như vậy rời khỏi nhóm. Điều này giống như loại bỏ mộng thịt khỏi mắt; sự loại bỏ đó là lý do để ăn mừng.
Như Đức Phật từng nói, “Ta tùy thuận với người thế gian”. Nếu Đức Phật còn hành xử như vậy thì con người bình thường chúng ta chắc chắn cũng phải làm vậy. Dĩ nhiên, tùy thuận không phải là không có nguyên tắc. Nó không phải là chúng ta cần thuận theo tham lam hay sân hận của chúng sinh khác. Chúng ta tùy thuận với những hành động lý chí và phù hợp với Giáo Pháp và theo cách này, hòa thuận với mọi người.
“Hãy là một người chính trực”. Bất kể nói và làm gì, chúng ta phải công bằng, chân thật và vô tư. Chúng ta phải thoát khỏi chấp ngã và thù hằn với kẻ khác. Ngoài ra, chúng ta không bao giờ được đặt bản thân vào vị trí thống trị, cũng không được đánh giá thiếu công bằng. Chúng ta phải tuân theo sự thật và vô tư. Do đó, làm người chính trực là điều bắt buộc. Sau đó, bất kể chúng ta bị hiểu lầm hay phỉ báng ra sao, chúng ta thực sự sẽ chẳng bao giờ bị làm hại. Bản tính tử tế và chân thật của chúng ta sẽ soi sáng như vàng ròng, và chẳng bị nhơ nhuốc bởi cản trở hay tăm tối.
“Ngập tràn lòng tốt bụng”: Nếu ai đó có vẻ là chính trực và dường như sẵn lòng tùy thuận với người khác, nhưng trong tâm lại ác độc, phẩm chất đạo đức của người này thật đáng nghi ngờ. Tâm là gốc của tất cả. Lama Tsongkhapa từng nói rằng:
Nếu ý định tốt, các địa và đạo cũng tốt.
Nếu ý định xấu, các địa và đạo cũng xấu.
Bởi mọi thứ phụ thuộc vào ý định,
Hãy luôn đảm bảo chúng tích cực.
Nếu người ta tốt bụng, mọi chuyện sẽ tốt đẹp; nhưng nếu họ không đặt tâm trí đúng hướng, họ sẽ chỉ hướng về tăm tối.
Ba nguyên tắc này để là một người tốt có tầm quan trọng lớn lao. Kyabje Rinpoche chỉ ra thêm rằng nếu chúng ta muốn làm lợi bản thân về lâu dài, làm lợi người khác trong hiện tại là điều căn bản. Là con người bình phàm, chẳng bao giờ nghĩ về an lành của bản thân là không thực tiễn; nhưng nếu chúng ta làm hại những người xung quanh trong quá trình theo đuổi mục tiêu của bản thân, chúng ta sẽ không tiến bộ. Giúp đỡ chúng sinh khác vì lợi của bản thân có vẻ là một kiểu ích kỷ. Thực sự tốt hơn là không có những ý nghĩ như vậy. Nếu bạn thực sự không thể khởi tâm vị tha chân chính, ít nhất, bạn cần cố gắng tử tế với người khác vì lợi thế và sự tồn tại của chính bản thân.
Kyabje Rinpoche từng nói đùa rằng, “Sau khi sống nhiều năm vừa qua, Ta nhận thấy rằng nhiều người chẳng có mấy trí tuệ thế gian. Đa phần chỉ ích kỷ cố gắng làm lợi bản thân, mặc dù đây cũng không nhất thiết là chiến lược tốt. Ví dụ, một người trẻ tuổi có thể yêu ai đó và thử mọi cách để sở hữu người kia, bao gồm cả việc hạn chế quyền tự do của anh hay cô ấy. Kết quả thường là phản tác dụng. Những người khác có thể có cách tiếp cận khác biệt, bằng cách toàn tâm toàn ý hỗ trợ và giúp đỡ người mà họ yêu. Nhờ làm vậy, họ có nhiều khả năng được chấp nhận làm đối tượng yêu thương hơn. Khi chúng ta nghiên cứu Phật Pháp, nếu chúng ta không nhận ra tầm quan trọng của tính cách thiện lành, và không cố gắng trưởng dưỡng những tính cách tốt, chúng ta sẽ chẳng thể đạt đến bất kỳ trạng thái chứng ngộ nào trong thực hành”.
2. Công Đức Của Việc Duy Trì Tính Cách Thiện Lành
Đây là những tiêu chuẩn thanh tịnh để là người tốt,
Phương tiện thiện xảo của tất cả chư Phật ba thời,
Và cũng chính là tinh túy của bốn pháp thu hút,
Mỗi người các con, đệ tử của Ta, không được quên!
a. Công Đức Của Việc Duy Trì Tính Cách Thiện Lành
Từ quan điểm thế tục và hoàn toàn về mặt đạo đức, sở hữu tính cách thiện lành được xem là đồng nghĩa với việc là người tốt. Từ quan điểm cầu giác ngộ, đó là biện pháp hiệu quả nhất để đạt được Phật quả với tất cả chư Phật quá khứ, hiện tại và tương lai. Nó cũng là tinh túy của bốn pháp thu hút mà chư Bồ Tát tuân theo. Tất cả Phật tử cần giữ điều này trong tâm và không bao giờ quên.
Tính cách thiện lành là “tiêu chuẩn thanh tịnh để là người tốt”, những nguyên tắc căn bản chi phối cuộc sống của một người tốt. Trong thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo trong lịch sử Tây Tạng, Hoàng đế Songtsen Gampo đã đặt ra Mười Sáu Nguyên Tắc[4] để là người tốt, điều bao gồm phát triển lòng sùng mộ với Tam Bảo; tìm kiếm và thực hành Thánh Pháp; báo đáp lòng từ của cha mẹ; chân thật, ít đố kỵ và v.v.
Tính cách thiện lành không chỉ là điều cốt yếu trong đời sống thế tục, mà quan trọng hơn, nó là sự dẫn dắt đến đời sống giác ngộ. Thực sự, nó là con đường của “phương tiện thiện xảo” nhất để thành tựu Phật quả với tất cả chư Phật quá khứ, hiện tại và tương lai. Bất kể vị Phật nào mà chúng ta đang nhắc đến, Ngài chắc hẳn phải từng là người tốt trước khi giác ngộ.
Thậm chí nếu chúng ta chưa xét đến những thành tựu về chứng ngộ và giác ngộ của chư vị, chúng ta có thể dễ dàng nói rằng chư đạo sư thực sự chứng ngộ cực kỳ thu hút về uy tín cá nhân. Về cá nhân tôi, tôi đã đi theo và nương tựa nhiều đạo sư tâm linh vĩ đại trong đời mình và sức hấp dẫn trong từ ngữ và hành động của chư vị vượt xa tưởng tượng của người thường. Những đạo sư vĩ đại này, như là kết quả của tính cách thiện lành, đã đạt đến trạng thái độc đáo vượt khỏi thế giới thế tục.
Tính cách thiện lành cũng là “tinh túy của bốn pháp thu hút”, điều bao gồm: (i) trao thứ mà kẻ khác thích, để dẫn dắt họ yêu thích và đón nhận chân lý; (ii) nói những từ ngữ dịu dàng, với cùng mục đích; (iii) trao lợi lạc cho kẻ khác, với cùng mục đích; (iv) phối hợp và điều chỉnh bản thân với kẻ khác, để dẫn dắt họ vào chân lý. Đây là bốn phương pháp chính của chư Bồ Tát để làm lợi hữu tình chúng sinh và chúng đều được xây dựng dựa trên tính cách thiện lành. Với tính cách thiện lành, người ta sẵn sàng cho đi, nói lời dễ chịu, làm lợi kẻ khác cũng như phối hợp và điều chỉnh bản thân với kẻ khác để dẫn dắt họ đến giác ngộ.
b. Lời Khuyên Tâm Yếu Của Kyabje Rinpoche
Bởi những lý do kể trên, Kyabje Rinpoche đã trao lời khuyên tâm yếu này: “Với những đệ tử có niềm tin với Ta, các con phải luôn ghi nhớ là người thiện lành, hiện tại cũng như trong tương lai. Nếu con không thể là người tốt, tất cả những trưởng dưỡng khác sẽ giống như cây không gốc và sẽ chẳng bao giờ phát triển”.
Trong quá khứ, chư đạo sư Kadam đáng kính trước tiên xem xét tính cách của đệ tử trước khi chấp nhận làm đệ tử. Nếu đệ tử không phải là người tốt, chư đạo sư sẽ không chấp nhận làm đệ tử cũng không trao truyền thừa Giáo Pháp cho họ. Mặt khác, nếu một đệ tử là người tốt nhưng có thể không uyên bác bằng, chư đạo sư vẫn mong đợi vị ấy trở thành đệ tử tốt. Vì thế, một tính cách thiện lành, chứ không phải là trí thông minh, mới là điểm trọng yếu ở đây. Một người tốt không nhất thiết phải là người với vẻ uy nghiêm, giọng nói hay và vẻ lịch thiệp; vị ấy phải tốt bụng.
Việc người ta có khác biệt về quan điểm về những vấn đề nhỏ là điều không lạ. Thậm chí một số Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni trong Tăng đoàn xung quanh Đức Phật cũng gặp phải những vấn đề này. Nhưng quan trọng hơn cả, bất kể tuân theo trường phái nào, dù từ bối cảnh Đại thừa hay Kim Cương thừa, Tăng đoàn cần duy trì là một cộng đồng hòa thuận và có không khí hòa hợp và đoàn kết. Đây cũng là sự hiển bày của tính cách thiện lành.
Tóm lại, Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche nhắc đến bốn chỉ dẫn cốt tủy chính trong bản văn này, tức là (1) trí tuệ bất nhị trong bối cảnh giáo lý Đại thừa và Kim Cương thừa, (2) Bồ đề tâm, (3) xả ly và (4) tính cách thiện lành. Bốn chỉ dẫn cốt tủy này là tinh túy của tất cả 84000 Giáo Pháp được tóm tắt nhờ sự nghiên cứu lý thuyết và chứng ngộ cá nhân của Ngài. Mỗi người chúng ta phải giữ vững chúng trong tâm.
Hoàn Mãn
Hồi Hướng
Lời Ghi Cuối
A. Hồi hướng
Xin hồi hướng công đức này cho tất cả hữu tình,
Cầu mong họ đều vượt qua vực thẳm của luân hồi.
Cầu mong tất cả các tâm tử đều được hoan hỷ
Và tái sinh về cõi Tây Phương Tịnh Độ Cực Lạc!
Công đức và thiện căn đến từ việc soạn bài ca này được chuyển cho tất cả hữu tình chúng sinh để giúp họ vượt qua vực thẳm kinh hãi của sáu cõi luân hồi. Tinh túy của 84000 phương pháp Giáo Pháp được tóm tắt thành bốn chỉ dẫn cốt tủy được nhắc đến phía trên. Cầu mong đại lạc khởi lên trong tâm trí những vị có niềm tin với Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche và với Phật giáo. Cầu mong tất cả hữu tình chúng sinh, với kết nối cát tường, đều tái sinh về Tây Phương Tịnh Độ, thành tựu an bình và hạnh phúc rốt ráo và làm lợi vô số hữu tình chúng sinh trong tương lai.
B. Lời Ghi Cuối
Trong chu kỳ thứ mười bảy của lịch Tây Tạng và vào năm Hỏa Tý [1996], thầy và trò đã vượt qua tất cả cản trở bên ngoài, bên trong và bí mật. Vào ngày cát tường này, Ngawang Lodro Tsungme đã kỷ niệm chiến thắng và ứng khẩu hát lên giữa gần năm nghìn tu sĩ. Sādhu!
Một chu kỳ trọn vẹn trong lịch Tây Tạng có sáu mươi năm. Ghi chép niên đại về lịch sử Tây Tạng bắt đầu vào năm 1027 sau Công nguyên. Năm mà Kyabje Rinpoche soạn Bài Ca Chiến Thắng thuộc chu kỳ thứ mười bảy của lịch Tây Tạng, vào năm Hỏa Tý, nhằm ngày 21 tháng 09 năm 1996. Như đã nhắc đến trước đó, đó là khi Ngài trở về Tu viện sau khi vượt qua tất cả cản trở bên ngoài, bên trong và bí mật, và có niềm vui đoàn tụ với tất cả đệ tử. Tu viện đã sắp xếp một Pháp Hội Tiệc Kim Cương cho dịp đặc biệt này, trong đó, toàn bộ câu chuyện về việc lâm bệnh và bình phục của Ngài được tái hiện, bao gồm một số Doha ban đầu được hát bởi Tôn giả Dromtonpa và Jamgon Mipham như là gia trì cho Ngài.
Ngawang Lodro Tsungme là Pháp danh của Ngài. Ngài đã ứng khẩu hát lên Bài Ca Chiến Thắng khi được bao quanh bởi gần năm nghìn tu sĩ. Sādhu! Sādhu!
[1] Một trong những đệ tử nổi tiếng của Đức Atisha.
[2] Đây là một trong những Bổn Sư của Jigme Phuntsok Rinpoche.
[3] Ngũ Đài Sơn là chốn cư ngụ linh thiêng của Đức Văn Thù ở trung tâm Trung Quốc.
[4] Mười sáu nguyên tắc này được nhắc đến là các giá trị nhân văn, khác với giới luật Phật giáo về mười thiện hạnh.
Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche
Khenpo Sodargye bình giảng
Việt dịch: Pema Jyana
Nguyên tác Anh ngữ: Song of Victory (https://khenposodargye.org/books/ebooks/song-of-victory/)