Hãy tiếp tục tìm hiểu Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng. Như đã nhắc đến trước đó, lời cầu nguyện này chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu xa ở cấp độ bên ngoài, bên trong và bí mật. Trọng tâm của chúng ta ở đây là ý nghĩa bên ngoài – một sự giải mã hòa hợp với giáo lý Kinh thừa nói chung. Tuy nhiên, phần này cũng giới thiệu thực hành Mật thừa được biết đến là bốn giai đoạn của tiếp cận và thành tựu. Các giai đoạn này là trọng tâm của Mật Điển Guhyagarbha và là cốt yếu với bất kỳ ai tham gia vào giai đoạn sinh khởi và hoàn thiện của Kim Cương thừa. Mặc dù có nhiều cách giải mã bốn giai đoạn này, chúng ta sẽ tuân theo luận giải rõ ràng của Mipham Rinpoche.
Một số có thể chưa từng thọ quán đỉnh Mật thừa. Tôi không thể biết mức độ niềm tin của các bạn với Kim Cương thừa. Nếu bạn cảm thấy thiếu niềm tin, bạn có thể chọn tạm thời bỏ qua phần này, bởi các thực hành được thảo luận ở đây khá cao cấp. Tuy nhiên, nếu bạn có lòng sùng mộ chân thành với Kim Cương thừa, tôi sẽ cung cấp một giải thích đơn giản từ nghĩa đen, theo cách thức gần gũi hơn với truyền thống Kinh thừa. Trình bày theo cách này sẽ không gây ra lỗi lớn nào. Cùng lúc, hoàn toàn bỏ phần này dường như cũng không thích hợp.
Như thế, bây giờ, hãy cùng tìm hiểu Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng theo bốn giai đoạn của tiếp cận và thành tựu.
BỐN GIAI ĐOẠN CỦA TIẾP CẬN VÀ THÀNH TỰU
Tiếp Cận Và Tiếp Cận Gần
Theo chỉ dẫn này, chúng ta cần quán tưởng Liên Hoa Vương thù thắng một cách rõ ràng và ổn định trên bầu trời phía trước, an tọa trên bông hoa sen vô cấu nhiễm trong Hồ Dhanakosha ở vùng đất Orgyen, được đồng hành bởi đoàn tùy tùng chư Không Hành Nam và Không Hành Nữ nhiều vô số như hạt trong vỏ quả mè. Điều này tạo thành giai đoạn tiếp cận. Cầu nguyện sùng mộ đến Guru Rinpoche với mong ước thành tựu tam kim cương trong thân, khẩu và ý là giai đoạn tiếp cận gần. Hai thực hành này (tiếp cận và tiếp cận gần) tạo thành giai đoạn sinh khởi.
Trong không gian phía trước bạn, hãy quán tưởng rõ ràng Liên Hoa Vương thù thắng, Đức Liên Hoa Sinh, an tọa trên hoa sen trong hồ Dhanakosha ở vùng đất Oddiyana. Ngài được bao quanh bởi đoàn tùy tùng chư Không Hành Nam và Không Hành Nữ, nhiều vô số như hạt trong vỏ quả mè. Giữ quán tưởng này rõ ràng và ổn định là giai đoạn tiếp cận. Đây chính xác là hình ảnh mà chúng ta thấy trong các bức tranh ruộng quy y và thangka về Guru Rinpoche.
Tiếp theo, hãy cầu khẩn Guru Rinpoche với lòng sùng mộ và sự kính trọng sâu sắc. Hãy mong mỏi thân, khẩu và ý của bạn trở nên bất khả phân với thân, khẩu và ý giác ngộ của Ngài – chuyển hóa ba cửa bình phàm của bạn thành tam kim cương. Đây là giai đoạn tiếp cận gần. Mục đích chính yếu của thực hành vị Tôn là chuyển hóa thân, khẩu và ý bất tịnh của bạn và chứng ngộ sự hợp nhất của chúng với tinh túy thanh tịnh của vị Tôn hay đạo sư.
Như thế, tiếp cận tương ứng với toàn bộ thực thể mà chúng ta quán tưởng. Nó giống như cần tiến hành kinh doanh với ai đó: trước tiên, bạn phải tìm ra đối phương. Khi đã tìm ra và bắt đầu trao đổi, đấy là tiếp cận gần. Hai thực hành này thuộc về giai đoạn sinh khởi của Kim Cương thừa và chức năng chính yếu của chúng là triệu thỉnh và quán tưởng đạo sư hay vị Tôn.
Thành Tựu
Khi kết thúc, giống như mảnh sắt bị hút về phía đá nam châm, vô số chư Phật và Bồ Tát trụ khắp mười phương đến và tan hòa vào Đạo Sư và đoàn tùy tùng của Ngài. Đạo Sư và đoàn tùy tùng tan thành ánh sáng, thứ sau đó tan vào chúng ta. Điều này tạo thành giai đoạn thành tựu.
Sau khi quán tưởng rõ ràng Guru Rinpoche và đoàn tùy tùng, bạn dâng những lời cầu khẩn trong khi tụng Chân ngôn Guru Rinpoche. Lúc kết thúc thời khóa, hãy quán tưởng tất cả chư Phật và Bồ Tát khắp mười phương tan hòa vào vị chính yếu – Đạo Sư Liên Hoa Sinh và đoàn tùy tùng. Sau đó, Guru Rinpoche và đoàn tùy tùng tan thành ánh sáng và hòa vào chính bạn. Đây là giai đoạn thành tựu.
Một thực hành tương tự có thể được tìm thấy trong Soi Sáng Con Đường Giải Thoát của Mipham Rinpoche cũng như trong thực hành Đạo Sư Du Già của Ngài, Cơn Mưa Gia Trì – Thực Hành Đạo Sư Du Già Đi Kèm Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng.
Giai Đoạn Thành Tựu: Một Thực Hành Riêng Biệt Của Kim Cương Thừa
Giai đoạn thành tựu này là một thực hành riêng biệt của Kim Cương thừa. Trong các thực hành quán tưởng của truyền thống Kinh thừa, người ta chủ yếu quán tưởng ánh sáng phóng ra từ Đức Phật hay từ các bảo tháp. Như Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật tuyên bố: “Phật Vô Lượng Thọ sở hữu tám mươi tư nghìn đặc điểm về thân, mỗi đặc điểm lại có tám mươi tư nghìn điểm xuất sắc phái sinh. Mỗi điểm phái sinh tỏa ra tám mươi tư nghìn tia sáng; mỗi tia sáng soi sáng phổ quát lên các vùng đất khắp mười phương, bao bọc và không từ bỏ những kẻ để tâm đến Đức Phật”.
Trong khi giáo lý Kinh thừa bao gồm quán tưởng về thân Đức Phật phóng vô số ánh sáng để bao bọc và dẫn dắt hữu tình chúng sinh, chúng không bao gồm thực hành được tìm thấy trong Kim Cương thừa, khi chư Phật và Bồ Tát tan thành ánh sáng và hòa vào hành giả.
Để tham gia vào thực hành Kim Cương thừa, trước tiên, người ta phải thọ quán đỉnh và tiến hành các thực hành sơ khởi. Điều này là bởi Kim Cương thừa liên quan đến một trình tự rèn luyện sâu xa và cao cấp hơn – đặc biệt là nhận thức thanh tịnh, giai đoạn sinh khởi và hoàn thiện, Dzogchen – điều có thể khó lĩnh hội hoàn toàn nếu không có sự chuẩn bị phù hợp.
Các thực hành Bí Truyền Thời Đường (Đường Mật) được tìm thấy ở Trung Quốc, thực sự tương tự với thực hành Mật điển Kriya và Charya trong Kim Cương thừa Tây Tạng. Chúng liên quan đến quán tưởng Đức Phật phía trước bản thân, phóng ánh sáng thâm nhập hành giả để ban gia trì. Tuy nhiên, từ cấp độ Mật điển Yoga và cao hơn trong Kim Cương thừa Tây Tạng, thực hành vượt khỏi sự quán tưởng đơn giản về đối tượng cầu khẩn phóng ánh sáng. Trong các thực hành cao cấp hơn này, chư Tôn được quán tưởng tan hòa vào hành giả và trở thành một với họ. Từ quan điểm của thiền định, điều này đại diện cho một cấp độ thực hành cao cấp hơn rất nhiều.
Về mặt lý thuyết – tại sao cần phải thực hành theo cách này? Phương pháp như vậy có lợi lạc nào? Những câu hỏi này được giải thích rất chi tiết trong các giáo lý lý thuyết Mật thừa và chỉ dẫn cốt tủy của Đấng Toàn Tri Longchenpa, Rongzom Pandita và Mipham Rinpoche.
Tầm Quan Trọng Của Việc Hiểu Giáo Lý Kim Cương Thừa
Bạn cần dần dần hiểu giáo lý Kim Cương thừa. Quan trọng hơn, bạn không chỉ cần hiểu chúng một cách lý thuyết, mà còn cần nắm bắt những điểm cốt yếu. Điều này quan trọng. Nhờ nhiều năm nghiên cứu, người ta hiểu được sự xuất sắc của Phật giáo. Từ Tứ Diệu Đế trở đi, tất cả giáo lý Phật đều vô song so với các truyền thống tâm linh khác. Dựa trên nền tảng này, bạn cũng phải dần dần nhận ra rằng Phật Pháp mở ra ở nhiều cấp độ, trong đó, các chỉ dẫn cốt tủy của Kim Cương thừa đặc biệt cao quý và sâu xa.
Trong quá khứ, khi tôi trò chuyện với các học giả và tu sĩ từ truyền thống Kinh thừa, tôi thấy nhiều người không thực sự công nhận hay chấp nhận Kim Cương thừa. Lý do cho điều này thường có vài kiểu; một số đơn giản không hiểu; số khác thiếu niềm tin; và một số bám chấp mạnh mẽ với trường phái hay truyền thống của bản thân. Thế nhưng cho đến nay, tôi chưa từng gặp ai có thể cung cấp lý do thực sự đầy đủ và có căn cứ để không chấp nhận Kim Cương thừa.
Thực sự, một số tri kiến nhất định của Kim Cương thừa cũng xuất hiện trong giáo lý Kinh thừa. Ví dụ, “tất cả hữu tình chúng sinh là Phật”, “tất cả chúng sinh đều sở hữu những phẩm tính của Phật tính” và “phiền não tức bồ đề”. Tuy nhiên, lý do sâu xa hơn đằng sau những tri kiến này – chẳng hạn: Tại sao phiền não là bồ đề? Tại sao tâm thanh tịnh dẫn đến môi trường thanh tịnh? Chúng sinh bình phàm thấy núi non, dòng sông và trái đất là bất tịnh và ô nhiễm, vậy làm sao điều này có thể không khác với Tịnh độ của Phật Vô Lượng Quang? – những câu hỏi này chỉ được ám chỉ ngắn gọn trong các bản văn Kinh thừa. Chúng không được giải thích với chiều sâu và sự chính xác như trong Kim Cương thừa.
Trong giáo lý Mật thừa, Đạo Sư Liên Hoa Sinh, Phật Vô Lượng Quang và Phật Thích Ca Mâu Ni, về tinh túy, chính là tâm của bạn. Tuy nhiên, nếu ai đó chưa đạt đến một cấp độ chứng ngộ nhất định, kiểu chỉ dẫn cốt tủy này không nên được dạy công khai. Nếu không, họ có thể không chấp nhận nó và cuối cùng từ bỏ toàn bộ giáo lý. Đây chính xác là lý do mà tính bí mật được nhấn mạnh trong Kim Cương thừa; nhiều hành giả, trước khi kết nối nghiệp của họ hoàn toàn chín muồi, đơn giản chưa được chuẩn bị để thọ nhận các tri kiến, thực hành và hành vi sâu xa của con đường Mật thừa.
Tóm lại, giai đoạn thành tựu là giai đoạn mà trong đó, chúng ta quán tưởng Guru Rinpoche và đoàn tùy tùng của Ngài tan hòa vào chính chúng ta.
Đại Thành Tựu
Ở đây, giai đoạn đại thành tựu được giải thích thông qua Guru Padma Siddhi Hung, dòng cuối cùng của Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng. Sự giải thích này đặc biệt sâu xa.
Guru
Phương thức tồn tại rốt ráo, nền tảng trong đó cả chúng ta và Guru Rinpoche là bất khả phân từ nguyên sơ – tức là, trí tuệ nguyên sơ tự sinh, không bị chi phối bởi sự chuyển động của ý nghĩ miên man – được nhắc đến là Guru.
Khi Guru Rinpoche và chư Phật cũng như Bồ Tát tan hòa vào chúng ta, sự bất khả phân trọn vẹn của chúng ta với những vị giác ngộ này không đơn thuần là một tuyên bố mang tính quan niệm. Như trong Ngọn Đuốc Xác Quyết tuyên bố, đây không phải là chuyện ép buộc quán tưởng điều gì đó bất tịnh là thanh tịnh; nó là về việc nhận ra thứ vẫn luôn luôn thanh tịnh. Vấn đề duy nhất là hữu tình chúng sinh không nhận ra điều này. Nhờ thực hành như vậy, chúng ta rốt ráo sẽ nhận ra Đạo Sư Liên Hoa Sinh ở cấp độ tuyệt đối. Những giáo lý này thực sự sâu xa. Phần sau của Bạch Liên Hoa giải thích Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng thông qua con đường giải thoát và con đường phương tiện thiện xảo. Lý do mà lần này, tôi không dạy phần đó là bởi lo rằng nhiều Pháp hữu vẫn chưa sẵn sàng chấp nhận.
Tại sao chư vị giác ngộ và bản thân [hành giả] lại hòa thành một? Bởi trí tuệ nguyên sơ của chúng ta và trí tuệ nguyên sơ của Guru Rinpoche cũng như chư Phật và Bồ Tát từ đầu vốn không khác – cả hai đều duy trì không bị phiền nhiễu bởi những ý nghĩ lan man. Đây là ý nghĩa của Guru. Nói một cách đơn giản, trí tuệ của tất cả hữu tình chúng sinh từ nguyên sơ vốn chẳng tách rời và bất nhị với trí tuệ của đạo sư.
Padma
Bởi những nhận thức mê lầm tự thân vốn thanh tịnh từ nguyên sơ, con đường thoát khỏi mọi sự gắng sức và kết quả tự nhiên hiện diện như hoa sen nở rộ. Vì vậy, [bản thân con đường] được nhắc đến là Padma, tức liên hoa.
Bởi tâm chúng ta bất khả phân với đạo sư; chúng ta vốn đã giải thoát khỏi sự nỗ lực gắng sức trên con đường. Những nhận thức mê lầm – phiền não bên trong của tham, sân và si, cũng như thế giới bên ngoài của núi non, dòng sông và vùng đất – từ nguyên sơ đều thanh tịnh. Kết quả tự nhiên hiện diện, giống như hoa sen – cố hữu vô cấu nhiễm, hoàn hảo sở hữu mọi phẩm tính. Đấy là lý do nó được gọi là Padma.
Siddhi
Bởi quả không phải là điều gì đó xảy ra ở giai đoạn sau như là kết quả của thực hành. Trong cõi rốt ráo, thứ tự sinh và tự nhiên hiện diện, trí tuệ nguyên sơ của giác tính bản thân rõ ràng [và vốn đã] hiển hiện. Điều này được nhắc đến là Siddhi, tức thành tựu.
Siddhi nghĩa là thành tựu. Thành tựu này xuất hiện là kết quả đạt được nhờ thực hành, nhưng thực sự, tất cả hữu tình chúng sinh vốn đã hiện thực hóa kết quả tự chứng ngộ trong Pháp giới tự nhiên hiện diện. Họ cố hữu sở hữu trí tuệ và phẩm tính hoàn hảo, không phải là điều gì đó đạt được nhờ thực hành sau đó.
Tại sao chúng ta lại nói rằng phiền não tức bồ đề? Tại sao chúng ta nói rằng hữu tình chúng sinh là Phật? Không có các chỉ dẫn cốt tủy của Kim Cương thừa, điều này thực sự khó lĩnh hội. Mặc dù giáo lý Kinh thừa, đặc biệt là khi chúng giải thích lần chuyển Pháp luân thứ ba, thường tuyên bố: “Hữu tình chúng sinh đơn thuần bị che lấp bởi mê lầm của tham, sân và si, nhưng thực sự là Phật”, tri kiến rằng – “ban đầu không phải Phật, sau đó trở thành Phật” khác biệt rất lớn với giáo lý Kim Cương thừa “vốn đã là Phật”. Kiểu sau là tri kiến dứt khoát nhất – điều hòa hợp với chính sự thực. Để thực sự hiểu ý định rốt ráo của Phật Thích Ca Mâu Ni, chúng ta không thể làm vậy mà không có chỉ dẫn cốt tủy, lý thuyết và thực hành của Kim Cương thừa.
Đấy là Siddhi, tức thành tựu. Ở đây, chúng ta gặp được cách thức đặc biệt để đạt được siddhi.
Hung
Và mặc dù về mặt phân biệt quan niệm, trí tuệ nguyên sơ tự sinh có thể được chia thành nền tảng, con đường và kết quả, ba điều này không khác biệt về bản chất. Điều này được trực tiếp nhìn nhận bởi giác tính tự thấu biết và được chỉ ra bằng chủng tự Hung.
Trí tuệ nguyên sơ tự sinh có thể được nhìn nhận từ những góc độ khác nhau là có ba khía cạnh – nền tảng, con đường và kết quả – tương ứng với hữu tình chúng sinh ở giai đoạn nền tảng, chư Bồ Tát trên con đường và chư Phật tại kết quả. Nó cũng có thể được hiểu thông qua hai chân lý của nền tảng, hai sự tích lũy của con đường và hai thân của kết quả. Tuy nhiên, những phân biệt này đơn thuần là định danh về mặt ngôn ngữ và khái niệm, khá giống cách mà một chiếc bình có thể được phân loại từ các quan điểm khác nhau là vô thường, hữu vi và có điều kiện. Thực sự, ba khía cạnh này có cùng bản tính cốt yếu và đều được trực tiếp nhận ra nhờ giác tính tự thấu biết. Hãy lấy hư không làm ví dụ: trong khi người ta có thể phân chia nó thành ba tầng theo quan niệm, từ quan điểm bản tính cốt yếu của hư không, những phân chia này chẳng thể tách rời. Hiểu nguyên tắc này chính là ý nghĩa của Hung.
Điều này nhắc đến giai đoạn đại thành tựu của thực hành. Hai bước – thành tựu và đại thành tựu – tạo thành thực hành giai đoạn hoàn thiện.
Nói tóm lược, lý do chúng ta bất nhị và chẳng thể tách rời Guru Rinpoche vốn đã được giải thích phía trên thông qua Chân ngôn Guru Padma Siddhi Hung – đây là giai đoạn đại thành tựu của thực hành. Giai đoạn thành tựu và đại thành tựu cùng nhau tạo thành thực hành giai đoạn hoàn thiện.
Ở đây, tôi chỉ trình bày sơ lược về những giáo lý sâu xa này, hầu như không gì hơn nghĩa đen của chúng. Tuy nhiên, có lẽ tôi cũng đã nói quá nhiều và vì thế, phạm lỗi nào đó trong việc giải thích điều không nên được dạy quá công khai. Om Benza Satto Hung!
Ý nghĩa của điều này là chúng ta cần tụng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng trong khi không bao giờ rời khỏi thực hành mà trong đó, giai đoạn sinh khởi và hoàn thiện hợp nhất.
Cầu nguyện theo cách này rất quan trọng. Nhiều Pháp hữu có niềm tin lớn lao với các giáo lý sâu xa của Kim Cương thừa và đã có những kinh nghiệm và sự hồi đáp tâm linh. Nếu chúng ta có thể thực hành ở một cấp độ cao – tức là, cầu nguyện theo cách thức không bao giờ rời khỏi giai đoạn sinh khởi và giai đoạn hoàn thiện – những kết quả thậm chí sẽ còn lớn hơn nhiều; gia trì và thành tựu sẽ đến nhanh hơn nhiều.
Năm dòng đầu tiên miêu tả sự quán tưởng và như thế, tạo thành giai đoạn tiếp cận. Dòng thứ sáu diễn tả sự tin tưởng và giao phó với Guru Rinpoche và như thế, là giai đoạn tiếp cận gần. Sau đó, với dòng thứ bảy, chúng ta hòa quyện bất khả phân với Đạo Sư và đây là giai đoạn thành tựu. Khi chúng ta tụng Chân ngôn với tâm chẳng thể tách rời Đạo Sư, chúng ta diện kiến tôn nhan của Pháp thân vĩ đại. Đây là giai đoạn đại thành tựu. Vì thế, cả bốn giai đoạn của tiếp cận và thành tựu đều trọn vẹn trong chính lời cầu nguyện này.
Năm dòng đầu tiên của lời cầu nguyện miêu tả sự quán tưởng – Đức Liên Hoa Sinh, nơi sinh của Ngài và v.v. Dòng thứ sáu diễn tả sự tin tưởng và giao phó với Guru Rinpoche; chúng ta quyết tâm đi theo dấu chân Ngài. Đây là giai đoạn tiếp cận gần. Sau đó, với dòng thứ bảy, Đức Liên Hoa Sinh giáng lâm ban gia trì để tâm chúng ta trở nên bất khả phân với Ngài. Cuối cùng, nhờ Chân ngôn Guru Padma Siddhi Hung, tâm chúng ta đã trở nên bất khả phân với Đạo Sư, chúng ta thấy diện mạo chân thật của Pháp thân vĩ đại.
Mặc dù lần này, tôi không đi sâu vào các phần sâu sắc hơn của Bạch Liên Hoa và chỉ giới thiệu ngắn gọn về thực hành bên ngoài của Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng, nhờ tìm hiểu lịch sử và công đức của lời cầu nguyện này, bạn sẽ thấy nó thực sự vô song và không dễ dàng gặp được. Những vị không hiểu giá trị của kim cương khẩu có thể nghĩ rằng, “Có gì đặc biệt về Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng? Tôi thậm chí có thể soạn lời cầu nguyện tám dòng!”. Nhưng một lời cầu nguyện như vậy không thể được tạo ra bởi tâm quan niệm, lan man.
GIẢI THÍCH BỐN GIAI ĐOẠN TỪ MỘT QUAN ĐIỂM KHÁC
Nếu chúng ta nỗ lực trong sự trì tụng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng (như miêu tả) – sau khi trước tiên thiết lập khoảng thời gian chúng ta sẽ dành cho thực hành – và nếu chúng ta bền bỉ trong những nỗ lực với lòng sùng mộ nhất tâm và không bị xao lãng cuốn đi, điều này tạo thành giai đoạn tiếp cận. Khi chúng ta bắt đầu cảm thấy kết quả từ gia trì của Guru Rinpoche, đây là tiếp cận gần. Về thọ nhận dấu hiệu chứng ngộ (dù trong lúc thức, trong thiền định hay trong mơ), khi chúng ta tiếp tục nỗ lực trì tụng lời cầu nguyện đến Đạo Sư, đây là giai đoạn thành tựu. Cuối cùng, khi thân, khẩu và ý của chúng ta được gia trì và chúng ta chứng ngộ rằng Đạo Sư và tâm chúng ta chẳng thể tách rời, đấy là đại thành tựu.
Về mặt thời gian chúng ta dành cho Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng, cũng có bốn giai đoạn tiếp cận và thành tựu. Cầu nguyện nhất tâm không xao lãng được gọi là giai đoạn tiếp cận. Khi chúng ta tiếp tục, chúng ta thực sự bắt đầu cảm thấy chư Phật và Bồ Tát hiện diện và gia trì chúng ta. Chúng ta có lẽ không thể thấy chư vị bằng mắt trần, nhưng chúng ta trải qua gia trì của chư vị ngày càng rõ ràng hơn. Đây là giai đoạn tiếp cận gần.
Một số Pháp hữu cảm thấy thôi thúc phải thực hành mạnh mẽ. Bất cứ khi nào tôi trao các chỉ dẫn cụ thể – chẳng hạn, về trì tụng Chân ngôn Đạo Sư Kim Cương – họ phát khởi và duy trì niềm tin chân thành, không để những tà kiến về Đức Liên Hoa Sinh khởi lên. Tương tự, khi tham gia vào thực hành Vô Lượng Quang, họ có sự xác quyết lớn lao với vị Phật này. Cầu nguyện nhất tâm như vậy là giai đoạn tiếp cận.
Sau đó, trong những giấc mơ, trong thiền định hay trong trạng thái không tỉnh cũng không mơ, Guru Rinpoche có thể thực sự xuất hiện trước chúng ta, hay thậm chí là trao đổi với chúng ta một cách trực tiếp. Đây là giai đoạn thành tựu. Cuối cùng, giai đoạn đại thành tựu xảy ra khi chúng ta thọ gia trì, thứ chuyển hóa ba cửa của chúng ta và chúng ta chứng ngộ ý nghĩa chân thật: rằng tâm chúng ta bất khả phân với Đạo Sư.
Thực sự, bất kể chúng ta trì tụng Chân ngôn của vị Tôn nào, thực hành đều đặn là điều quan trọng. Nhờ nỗ lực kiên định, gia trì sẽ tự nhiên thấm nhuần tâm chúng ta. Ví dụ, khi tụng Chân ngôn Guru Rinpoche gần đây, nhiều người chúng ta thực sự cảm nhận được gia trì của Ngài. Khi tâm nhận được những phản hồi tâm linh này, hoàn cảnh thuận lợi bên ngoài sẽ khởi lên và chướng ngại trong thực hành dần dần biến mất.
Như Kho Tàng Chỉ Dẫn Cốt Tủy Quý Báu có nói, “Hoàn cảnh cát tường trong con sẽ khởi lên trong trải nghiệm bên ngoài”. Vì thế, khi chúng ta thường xuyên cầu nguyện đến Guru Rinpoche và những vị Tôn khác, chẳng hạn Văn Thù Sư Lợi, chúng ta sẽ liên tục thọ nhận gia trì. Tuy nhiên, nếu chúng ta thờ ơ với chư vị, gia trì – như ánh trăng – chẳng thể thâm nhập tâm chúng ta dẫu cho sức mạnh chẳng thể nghĩ bàn, bởi bình chứa của chúng ta bị che lấp bởi những ô nhiễm. Đấy là lý do những lời cầu nguyện sùng mộ kết nối chúng ta với gia trì của chư Phật, Bồ Tát và chư Tôn.
Đại Thành Tựu Giả Thời Hiện Đại
Thực sự, nhiều hành giả, nhờ thực hành bốn giai đoạn của tiếp cận và thành tựu, đã đạt chứng ngộ mà trong đó, Đạo Sư và tâm họ được trải qua là bất khả phân.
Benza Guru Drubtop: Một Đại Thành Tựu Đương Thời Về Chân Ngôn Đạo Sư Kim Cương
Năm 2007, một Rinpoche từ Hội Phật Giáo Liên Hoa Sinh của Đài Loan đã kể lại câu chuyện về Drubtop, một đại thành tựu giả hiện đại về Chân ngôn Đạo Sư Kim Cương từ Bhutan. Vị đạo sư thành tựu này vốn đơn giản là một nông dân bình thường; ông ấy không biết đọc. Bởi ban đầu ông ấy theo tôn giáo Bon và thực sự không hiểu những phẩm tính cao quý của Guru Rinpoche, ông ấy từng phỉ báng Đạo Sư bằng những lời cay nghiệt. Thời trung niên, ông ấy bị một kẻ thù nguyền rủa và kết quả là, bị mù. Để phục hồi thị lực, ông ấy tìm cách chữa trị khắp nơi, nhưng vô ích. Sau đó, theo lời khuyên của một đạo sư tâm linh, ông ấy bắt đầu thực hành Chân ngôn Đạo Sư Kim Cương và xem đây là thực hành duy nhất.
Khi ông ấy hiến dâng hết lòng cho Chân ngôn Đạo Sư Kim Cương, niềm tin với Guru Rinpoche tăng trưởng liên tục. Bởi ông ấy bị mù, với ông ấy, không có khác biệt giữa ngày và đêm và ông ấy đã thực hành tinh tấn không gián đoạn.
Khi ông ấy trì tụng được một trăm triệu biến Chân ngôn Đạo Sư Kim Cương, kinh luân mà ông ấy sử dụng hằng ngày trong lúc tụng Chân ngôn bắt đầu chảy ra cam lồ chẳng thể nghĩ bàn. Như chúng ta đều biết, kinh luân chứa những cuộn giấy khô, nó không thể tạo ra nước từ không khí. Thế nhưng, nhờ sự tinh tấn của ông ấy và gia trì từ Guru Rinpoche, điều diệu kỳ như vậy đã xảy ra trong kinh luân. Tuy nhiên, ông ấy không dính mắc vào chuyện này và vẫn tiếp tục trì tụng Chân ngôn Đạo Sư Kim Cương với sự bền bỉ không dao động.
Khi tụng được ba trăm triệu biến Chân ngôn Đạo Sư Kim Cương, ông ấy diện kiến Guru Rinpoche trực tiếp trong một trạng thái hư huyễn như mơ. Guru Rinpoche đã ban một tiên tri: “Nếu con trụ trên thế giới này thêm bảy năm, thị lực của con sẽ được phục hồi”. Ngài cũng bảo rằng, “Lý do con bị mù cả hai mắt là bởi trước kia con trung thành với truyền thống Bon và đặc biệt, từng phỉ báng và khinh miệt chư vị giác ngộ. Vì thế, mặc dù giờ đây con diện kiến Ta, bởi những che chướng này, con không thể lập tức phục hồi thị lực lại ngay”.
Guru Rinpoche còn trao cho ông ấy một chỉ dẫn cụ thể về việc làm vương miện nghi lễ. Không được bất kỳ ai hỗ trợ, ông ấy đã tự tay chế tác chiếc vương miện từ tấm đồng đúng như Guru Rinpoche hướng dẫn và nó đem đến lợi lạc khác nhau cho tất cả những ai thấy, nghe hay chạm vào.
Hơn thế nữa, Guru Rinpoche đã trao cho ông ấy một chỉ dẫn cốt tủy bí mật để đẩy lùi và đảo ngược chướng ngại, nhờ đó, bệnh tật nghiêm trọng và khủng hoảng khẩn cấp có thể được tiêu trừ nhanh chóng. Chỉ ông ấy biết nghi thức này, điều cũng tương tự như một số Terton nhất định. Nó liên quan đến việc trước tiên làm một Torma đặc biệt và tụng nghi thức độc đáo đó; sau đó, cởi toàn bộ đồ, mang Torma đến một ngã ba gần đó. Nhờ phương pháp chẳng thể nghĩ bàn này, người ốm nặng có thể phục hồi ngay lập tức và những vị trong tình trạng khẩn cấp có thể đẩy lùi tai ương và thoát khỏi nguy hiểm. Kết quả là, nhiều người đã phát triển niềm tin lớn lao với thực hành Guru Rinpoche.
Theo ước tính thận trọng, trước khi viên tịch, ông ấy đã tụng ít nhất sáu trăm triệu biến Chân ngôn Đạo Sư Kim Cương. Việc thị lực của ông ấy rốt ráo có được phục hồi hay không thì không được ghi lại.
Bảy ngày trước khi qua đời, ông ấy bảo vị trụ trì Tu viện, Ugyen Lama: “Bảy ngày nữa, tôi sẽ rời thế giới này và đến Tịnh độ để gặp Guru Rinpoche”. Ugyen Lama nghĩ rằng ông ấy đang đùa và không để tâm đến. Sau đó, ông ấy nói với một tu sĩ khác: “Ugyen Lama chưa làm chủ được sinh và tử, nhưng tôi thì đã. Ông ấy không thể hiểu ý tôi nói … Pháp thân là trạng thái không chết; bởi tôi đã chứng ngộ Pháp thân, thực sự, chẳng có cái chết với tôi”. Nghe vậy, vị tu sĩ lo lắng rằng ông ấy thực sự sẽ thị hiện Niết Bàn. Rõ ràng, bảy ngày sau, vào buổi sáng đẹp trời, ông ấy đã an nhiên viên tịch trong tư thế kiết già kim cương. Khi ấy, trái đất rúng động. Toàn bộ vương quốc Bhutan kinh ngạc và dân chúng từ khắp nơi đổ về tỏ lòng kính lễ. Điều này xảy ra vào tháng 5 năm 2006.
Miêu Tả Ngắn Gọn Về Một Đại Thành Tựu Giả Ở Litang
Thời nay, vẫn có nhiều người thực hành Guru Rinpoche một cách toàn tâm toàn ý. Diễn Đàn Minh Đăng đã kể lại câu chuyện về một hành giả dành cả cuộc đời để nhập thất, chỉ thực hành Chân ngôn Đạo Sư Kim Cương trong một hang động gần Tu viện Mingyur ở Litang. Sau khi tụng hơn một tỷ biến Chân ngôn, ông ấy đạt chứng ngộ. Bên cạnh hang nhập thất, một dòng suối chảy xuống từ trên núi; nhờ sức mạnh gia trì của ông ấy, âm thanh nước chảy được nghe giống như Chân ngôn Đạo Sư Kim Cương đang được tụng – thực sự vi diệu. Sau đó, khi ông ấy viên tịch, nhiều dấu hiệu cát tường khác nhau đã xuất hiện và về điều này, chẳng có nghi ngờ gì.
Hãy Khiến Cuộc Đời Bạn Ý Nghĩa Và Phi Phàm
Thoạt nhìn, con người chúng ta dường như đều như nhau, nhưng thực sự, một số người có thể tụng hơn một tỷ biến Chân ngôn, trong khi số khác vật lộn để đạt đến dù chỉ vài trăm nghìn – điểm khác biệt rất lớn. Như người xưa thường nói, con người ta khác nhau: một số oai hùng, số khác đáng thương; một số cực kỳ mạnh, số khác yếu đuối và bất lực; một số đầy năng lực, số khác gần như chẳng giỏi giang gì … Và những khác biệt này, ngoài việc được quyết định bởi nghiệp từ các đời quá khứ, cũng được định hình bởi nỗ lực và sự tinh tấn trong chính đời này.
Trong khoảng thời gian ngắn ngủi của một đời người, chúng ta có thể làm được nhiều chuyện, nhưng bỏ qua những phương pháp thực hành thực sự cao quý thì thật đáng tiếc. Với những phương pháp thù thắng như vậy, ngay cả khi chúng ta không thể tiến hành các thực hành tỉ mỉ hơn, đạt đến một mức độ nhất định trong trì tụng Chân ngôn là điều không khó.
Những Lợi Lạc Của Chân Ngôn Đạo Sư Kim Cương[1] nói rằng, “Nếu con tiến hành một trăm nghìn biến, mười triệu hoặc nhiều hơn, tam giới sẽ nằm trong sự kiểm soát của con, ba cấp độ tồn tại sẽ nằm trong sự ảnh hưởng vinh quang của con; chư thiên và tinh linh sẽ vâng lệnh con; bốn kiểu hoạt động giác ngộ sẽ được thành tựu không cản trở và con sẽ có thể đem đến lợi lạc chẳng thể đo lường cho tất cả hữu tình chúng sinh theo bất cứ cách nào cần thiết”.
Dĩ nhiên, với đa số ngày nay, tụng hàng trăm triệu hay thậm chí là hơn một tỷ biến Chân ngôn như chư đạo sư thành tựu từng làm là điều không thực tế lắm. Nhiều người thì lại xem ti-vi cả ngày rồi đi ngủ, lãng phí thời gian cho những chuyện tầm thường vô nghĩa, không sẵn sàng ngồi xuống tụng Chân ngôn. Kết quả là, sau một cuộc đời bận rộn, ngày nọ, khi họ bất ngờ ngã quỵ và nhìn lại cuộc đời, họ có thể thấy bản thân chưa tích lũy được thiện căn nào – chỉ có thân và tâm đầy ác nghiệp.
Trái lại, ở những nơi thanh tịnh cho sự nghiên cứu và thực hành Phật giáo như Larung Gar, hầu hết đang tinh tấn thực hành – thực sự là một nhân để hoan hỷ. Khi tôi thấy mức độ tinh tấn và tận tụy của một số Pháp hữu của chúng ta trong thực hành, tôi thực sự thấy khiêm nhường và được truyền cảm hứng để làm sâu sắc thêm nỗ lực của bản thân.
Điều này nhắc nhở tôi về giấc mơ của một công chúa vào thời Phật Ca Diếp: Một con khỉ ngồi trên Pháp tòa thuyết giảng, trong khi nhiều sư tử ngồi dưới lắng nghe. Khi công chúa hỏi Phật Ca Diếp điều này nghĩa là gì, Ngài giải thích rằng: “Trong giai đoạn cuối của giáo lý Phật Thích Ca Mâu Ni, một số vị thầy trên Pháp tòa sẽ chẳng có công đức bên ngoài hay bên trong, như con khỉ vậy; trong khi những vị lắng nghe sẽ sở hữu mọi phẩm tính, giống như sư tử núi tuyết”. Thực sự, thời kỳ được tiên đoán bởi Đức Phật đã đến. Xung quanh tôi có nhiều hành giả thực hành xuất sắc bất kể ngày – đêm và điều này thực sự đáng ngưỡng mộ.
Tuy nhiên, ngay cả trong đại dương cũng có những sinh vật cao quý và thấp hèn. Đôi khi, tôi cũng thấy một số còn tệ hơn tôi. Thấy hành vi của họ, tôi chỉ có thể thở dài: “Chao ôi, sao những người này lại xuất gia?”, “Tại sao những hành giả cư sĩ này lại sống ở Học viện? Họ chẳng thể kiếm được danh – lợi thế gian ở đây. Mục đích lắng nghe những băng ghi âm và đài suốt ngày, hát hò và tán gẫu về quá khứ là gì?”. Vì thế, khách quan và công bằng mà nói, ngay cả trong một trung tâm Giáo Pháp thanh tịnh như vậy, vẫn có một số lượng rất nhỏ những vị mà thực hành yếu kém.
Dĩ nhiên, điều này là bình thường. Ngay cả trước sự hiện diện của chính Phật Thích Ca Mâu Ni, năm trăm Tỳ Kheo đã xả y. Vì thế, bất cứ đâu trên thế gian, không thể không có những trường hợp như vậy – chẳng gì có thể hoàn toàn thanh tịnh. Một số người cho rằng sẽ không có phiền não trong các Tu viện và khi họ nghe nói điều gì đó, họ bắt đầu kinh ngạc thốt lên: “Ôi! Làm sao những chuyện như vậy có thể xảy ra trong một Tu viện?”. Điều này có thể hiểu được, bởi họ không quen thuộc với lịch sử Phật giáo và hoàn cảnh cụ thể của những trường hợp như vậy. Tuy nhiên, với hành giả chúng ta, chúng ta cần ưu tiên thực hành và dành nỗ lực cho điều thực sự ý nghĩa, thay vì chìm trong những bận tâm vô ích, tầm thường.
Ngày nay, đa phần hành giả cư sĩ ở các thành phố đang làm khá tốt. Trong khi đối mặt nhiều áp lực từ gia đình, công việc và những chuyện khác, họ vẫn dành thời gian để nghiên cứu và thực hành Pháp, điều thực sự không dễ dàng. Nhưng cũng có một số không trân trọng Giáo Pháp, luôn tìm cớ và coi việc tham dự các buổi giảng chỉ như một hoạt động thế tục khác. Cuộc đời rất ngắn – tôi mong các bạn sẽ làm những việc giá trị, chẳng hạn lắng nghe, quán chiếu và thiền định về Pháp – các thực hành làm lợi lạc chính bạn – hay giúp đỡ hữu tình chúng sinh hết sức có thể.
Những điều ý nghĩa phải được làm; về những chuyện vô nghĩa, tôi sẽ không nói rằng không làm chúng hoàn toàn, mà hãy làm ít nhất có thể. Tập khí của một số người quá mạnh – ngay sau khi nghe một giáo lý, họ có thể trấn áp phiền não trong một hay hai ngày, nhưng bởi có nhiều hoàn cảnh xung quanh thúc đẩy thói quen xấu, trong khi thuận duyên để trưởng dưỡng thiện hạnh và để lắng nghe, quán chiếu và thiền định thì ít ỏi, kết quả từ thực hành của họ thường không được như mong đợi. Đây là điều mà các bạn cần thấu triệt!
CAM KẾT ĐẾN VỚI CHÚNG TA CỦA GURU RINPOCHE
Hãy Thiết Lập Kết Nối Thân Thiết Với Guru Rinpoche
Như trong bản văn kho tàng được tìm ra bởi Ngari Rigdzin gọi là Nghi Quỹ Bên Ngoài Trì Minh Hiện Thân Tám Heruka có nói,
Vua đáp ứng tất cả là lời cầu nguyện gồm bảy dòng này.
Nhờ sức mạnh của ước nguyện, con sẽ trực tiếp thấy được tôn nhan Đạo Sư.
Trong bảy ngày hoặc hai mươi mốt ngày, hãy tụng lời cầu nguyện này.
Thành tựu và gia trì sẽ trút xuống con;
Con sẽ thoát khỏi mọi chướng ngại.
Ngari Rigdzin nói trong bản văn kho tàng của Ngài rằng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng giống như vua giữa loài người – nó là vua của mọi thực hành nghi lễ. Nhờ sức mạnh của những lời nguyện trong quá khứ của Guru Rinpoche, bất kỳ ai cầu nguyện với lòng sùng mộ chân chính chắc chắn sẽ diện kiến Guru Rinpoche trực tiếp. Cách tiếp cận lý tưởng là tập trung vào trì tụng lời cầu nguyện này trong bảy hoặc hai mươi mốt ngày. Nếu chúng ta làm vậy, mọi thành tựu sẽ tự nhiên trút xuống, và mọi chướng ngại sẽ tự nhiên được tiêu trừ. Ở nhiều Tu viện Phật giáo Tây Tạng, Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng được tụng trước bất cứ thực hành vị Tôn nào.
Tôi từng viếng thăm một Tu viện ở Rongzhag; ở đó, vào mỗi mùa Thu, họ lại dành bảy ngày cho thực hành Guru Rinpoche. Tất cả dân chúng đều gia nhập cùng với Tăng đoàn tu sĩ của Tu viện để liên tục tụng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng từ sáng đến đêm. Nhiều Tu viện và cá nhân ở khắp các vùng Tây Tạng cũng làm tương tự, thường dành bảy hay hai mươi mốt ngày cho riêng thực hành này về Guru Rinpoche.
Trong bất cứ thực hành vị Tôn nào, tốt nhất là bắt đầu bằng cách thiết lập một kết nối với vị Tôn. Điều này cũng có thể được thấy trong thực hành của Choje Yidzhin Norbu – dù Ngài đang thực hành Văn Thù hay Quán Thế Âm, đầu tiên Ngài tập trung vào thực hành vị Tôn đó trong một khoảng thời gian, sau đó liên tục tụng Chân ngôn của vị Tôn đó một túc số nhất định. Tương tự, nếu đây là lần đầu tiên bạn tham gia vào thực hành Guru Rinpoche, tốt nhất là trước tiên tiến hành nhập thất bảy ngày, quyết tâm tụng một túc số nhất định về Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng hay Chân ngôn Đạo Sư Kim Cương. Sau đấy, bạn có thể tụng chúng tùy ý trong đời sống hằng ngày. Giống như trong đời sống bình thường, khi bạn muốn quen biết ai đó, trước tiên, bạn mời họ dùng bữa để vun đắp mối quan hệ; khi đã trở thành bạn bè, bất cứ khi nào có chuyện gì đó, bạn có thể đơn giản gọi điện cho họ. Vì thế, khi gặp chướng ngại, đừng quên “gọi” Guru Rinpoche!
Vài ngày trước, một số Pháp hữu đề cập rằng khi nổi loạn nổ ra ở một thành phố nhất định vào năm ngoái, cả nhà họ đã thiết tha tụng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng. Đây chính xác là sự phản hồi đúng đắn. Hoặc là, chúng ta cũng có thể tụng “Lama Khyen” hoặc “Guru Rinpoche Khyen” để triệu thỉnh sự bảo vệ của Guru Rinpoche. Ở các vùng Tây Tạng, người già và hành giả trong quá khứ thường lập tức cầu nguyện đến Guru Rinpoche ngay cả khi gặp nguy hiểm nhỏ nhất – ví dụ, khi gặp sói trong lúc chăn Yak, họ lập tức hô lên: “Guru Rinpoche Khyen!”. Nếu bạn có thể duy trì thực hành này theo thói quen trong thời gian dài, khi khoảnh khắc cái chết xảy đến, Guru Rinpoche và Phật Vô Lượng Quang chắc chắn sẽ đến dẫn dắt và hỗ trợ bạn.
Và chính Guru Rinpoche đã hứa bằng những lời của chính Ngài rằng:
Bằng giai điệu mong mỏi, nếu con hát bảy dòng này,
Triệu thỉnh Ta mãnh liệt theo nhịp trống sọ,
Từ Núi Vinh Quang của Ngayab, Ta sẽ gia trì con,
Ta, Đấng Orgyen, giống như mẹ chẳng thể kháng cự
Tiếng khóc của đứa con thân yêu.
Ta cam kết như vậy, nếu không đúng, Ta sẽ đọa địa ngục!
Nếu bạn tụng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng bằng giai điệu du dương và thiết tha cầu khẩn trong khi lắc trống cầm tay, Guru Rinpoche sẽ đến với bạn từ vùng đất của La Sát. Giống như mẹ chẳng thể bỏ đứa con đang khóc gọi – bởi những hứa nguyện vững chắc Ngài đã phát rất lâu về trước – Guru Rinpoche chắc chắn sẽ xuất hiện. Ngay cả khi bạn không có trống cầm tay hay Pháp khí nghi lễ, nếu bạn chắp tay lại với lòng sùng mộ chân thành, Guru Rinpoche cũng sẽ xuất hiện trước bạn, ban gia trì cho thân, khẩu và ý của bạn, xua tan mọi chướng ngại và nghịch duyên, dù đến từ con người hay phi nhân. Tôi tin rằng nhiều người các bạn đã có sự tin tưởng với những từ ngữ kim cương này của Guru Rinpoche.
Guru Rinpoche Đến Vào Ngày Mười Mỗi Tháng Tây Tạng
Trong bản văn chưa được phân loại Đạo Sư Tập Hội Bí Mật, Guru Rinpoche nói rằng,
Vào chính ngày đó trong các ngày,
Ngày Mười tháng Thân, năm Thân,
Và tất cả những ngày Mười Âm lịch – những thời điểm sức mạnh như vậy,
Gửi đến những hóa hiện, Ta sẽ tràn khắp thế gian,
Để ban vô vàn thành tựu thù thắng và thông thường.
Nếu con dành cuộc đời mình để thành tựu Đạo Sư,
Khi thời điểm tan rã xảy đến,
Con sẽ hòa vào tim Ta, Đạo Sư Orgyen.
Những lời này chứa đựng ý nghĩa sâu xa. Ngày Mười của tháng Thân năm Thân là ngày mà Guru Rinpoche rời Tây Tạng đến vùng đất La Sát. Năm nay là Năm Thổ Sửu (2009), còn bảy năm nữa là đến năm Thân tiếp theo. Trước khi Lama Yidzhin Norbu viên tịch, Ngài đã lên kế hoạch tổ chức một Pháp hội đặc biệt vào năm tiếp theo – một năm Thân – bởi Phật Học Viện Ngũ Minh Larung Gar của chúng ta đã được thành lập vào ngày Mười tháng Thân trong năm 1980, cũng là một năm Thân. Ở khắp các vùng Tây Tạng, ngày Mười tháng Thân trong năm Thân có tầm quan trọng đặc biệt. Khi Guru Rinpoche ra đi, Ngài đảm bảo với tất cả thượng thư và dân chúng: “Bất cứ khi nào ngày này xuất hiện, Ta chắc chắn sẽ trở về cõi người và ban gia trì cho tất cả”.
Hơn thế nữa, ngày Mười mỗi tháng cũng được xem là “ngày trong các ngày”. Theo tiểu sử của Guru Rinpoche, vào ngày Mười mỗi tháng theo lịch Tây Tạng – bất kể tháng nào – Guru Rinpoche đều hiển bày những hoạt động khác nhau để làm lợi lạc chúng sinh và điều phục ma quỷ cũng như tinh linh:
Vào ngày Mười tháng Giêng, Guru Rinpoche từ bỏ ngai tòa và đến Nghĩa Địa Hàn Lâm; tại đây, Ngài đã điều phục vô số Không Hành Nữ, ma quỷ và tinh linh và chuyển Pháp luân. Như thế, ngày Mười của tháng Giêng là một ngày đặc biệt.
Vào ngày Mười tháng Hai, Guru Rinpoche xuất gia trước sự chứng minh của Tôn giả Prabhahasti. Một số miêu tả cũng tuyên bố rằng Ngài đã được xuất gia bởi Tôn giả A Nan.
Vào ngày Mười tháng Ba, trong vương quốc Zahor, vua cố gắng thiêu sống Guru Rinpoche. Nhưng Guru Rinpoche đã biến giàn thiêu thành hồ nước. Như thế, ngày Mười tháng Ba đánh dấu sự hiển bày sức mạnh siêu nhiên của Guru Rinpoche.
Vào ngày Mười tháng Tư, ở vương quốc Oddiyana, Guru Rinpoche và vị phối ngẫu Mandarava bị ném vào giàn thiêu rừng rực trong bảy ngày bảy đêm. Diệu kỳ thay, hai vị xuất hiện là không bị tổn hại gì, hiển bày những sức mạnh diệu kỳ khác nhau và điều phục chúng sinh ma quỷ. Sau đó, vua của Oddiyana đã bổ nhiệm Guru Rinpoche là Quốc Sư.
Vào ngày Mười tháng Năm, Guru Rinpoche đã điều phục năm trăm học giả ngoại đạo và phát ra tiếng sư tử hống của Giáo Pháp.
Vào ngày Mười tháng Sáu, Guru Rinpoche sinh ra ở Hồ Dhanakosha.
Vào ngày Mười tháng Bảy, ở vùng đất Tamradvipa (Đảo Đồng), vị vua, bị những giáo lý sai lầm của dị giáo lừa dối, đã nhốt Guru Rinpoche trong nồi đồng và ném Ngài xuống sông. Trong sự hiển bày diệu kỳ, Guru Rinpoche lập tức bay lên bầu trời và đảo ngược dòng sông, gần như phá hủy toàn bộ cung điện của vị vua ác độc. Kinh hãi, vị vua cầu xin tha thứ và đã quy y Ngài.
Ngày Mười tháng Tám, những kẻ dị giáo đã trao cho Guru Rinpoche thức ăn tẩm độc, nhưng Ngài chẳng bị tổn hại chút nào; thay vào đó, toàn bộ thân Ngài tỏa ra sự huy hoàng ngày càng tăng trưởng.
Vào ngày Mười tháng Chín, ở Động Yangleshö thuộc Nepal, trong hình tướng Kim Cương Đồng Tử, Ngài điều phục nhiều ma quỷ và tinh linh của Tây Tạng và Nepal và thành tựu Trì Minh Đại Ấn.
Vào ngày Mười tháng Mười, Guru Rinpoche đến Tây Tạng. Sau khi điều phục các tinh linh địa phương, Ngài thiết lập nền móng cho sự truyền bá Phật giáo và kể từ đó trở đi, truyền bá Phật Pháp khắp vùng đất.
Vào ngày Mười tháng Mười một, bắt đầu từ Samye, Ngài đã chôn giấu vô số kho tàng Terma khắp Tây Tạng, điều phục vô số tinh linh và trói buộc chúng bằng lời thề phục vụ là vị bảo vệ Terma và giao phó cho chúng “chìa khóa” cho các kho tàng.
Vào ngày Mười tháng Mười hai, tại Gungtang thuộc Mangyul, Ngài chia tay mọi người và rời đến vùng đất của La Sát, để lại nhiều giáo lý cho thế gian – đặc biệt là lời hứa: “Vào ngày Mười mỗi tháng, Ta sẽ đến cõi người; miễn là các con gọi Ta, Ta sẽ nhanh chóng ban gia trì”.
Vì lý do này, ở nhiều Tu viện khắp vùng Tây Tạng, có lễ cúng dường Tsok vào ngày Mười mỗi tháng dành cho thực hành Guru Rinpoche. Khi còn trẻ, tôi thường nghe người già nói rằng, “Hôm nay là ngày Mười – hãy tụng Chân ngôn Guru Rinpoche”. Tôi không biết liệu thế hệ trẻ hơn có còn duy trì truyền thống này. Dẫu sao, ngày Mười có ý nghĩa đặc biệt. Xin hãy nhớ nhắc nhở bản thân rằng, bất kể bạn ở đâu, bạn cần dâng cúng dường Tsok vào ngày đó, và đặc biệt là tụng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng và Chân ngôn Đạo Sư Kim Cương. Với mỗi ngày Mười, Guru Rinpoche hiển bày hàng chục triệu hóa hiện ở Nam Thiệm Bộ Châu để làm lợi chúng sinh – đây là lời hứa của Ngài.
Choje Yidzhin Norbu thường nói rằng: “Ngày Mười tháng Thân năm Thân đặc biệt quan trọng. Vào ngày này, chúng ta phải cử hành cúng dường tiệc lớn và tổ chức các nghi lễ Phật giáo quy mô lớn. Ngày Mười mỗi tháng cũng quan trọng; hãy nỗ lực hết sức để dâng cúng dường Tsok và cầu khẩn Đạo Sư Liên Hoa Sinh. Nếu con muốn xua tan chướng ngại, hoàn thành mong ước và mong cầu giải thoát, bằng cách quán tưởng và cầu nguyện đến Guru Rinpoche, Ngài chắc chắn sẽ ban cả thành tựu thông thường và đặc biệt”.
Bất kể bạn là ai, nếu bạn tham gia vào thực hành Guru Rinpoche suốt cuộc đời, lúc chết, bạn chắc chắn sẽ tan hòa vào tim Ngài. Bởi Guru Rinpoche và Phật Vô Lượng Quang là bất khả phân – một vị và một tinh túy – không có khác biệt giữa việc tham gia vào thực hành Guru Rinpoche và tham gia vào thực hành Vô Lượng Quang. Đã được trao cho một thực hành xuất sắc như Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng, chúng ta cần chắc chắn áp dụng nó; thờ ơ nó sẽ là điều vô cùng đáng tiếc.
Guru Rinpoche Chắc Chắn Sẽ Đến
Hướng Dẫn Bí Mật Để Thành Tựu Đạo Sư có nói rằng:
Trong giai đoạn sinh khởi
Về bất kỳ nghi quỹ nào,
Khi con thiền định rõ ràng,
Ta ở đó, ngay trước con.
Khi con dâng Mandala và bày biện
Torma cũng như các chất cúng dường,
Đừng nghi ngờ; Ta sẽ đến bên con.
Bản văn này cũng nói rằng,
Hãy thiền định về Liên Hoa Sinh,
Hiện thân trong thân ánh sáng, chứ không phải từ thịt,
Và có sự tin tưởng lớn lao.
Và,
Ta sẽ đến, chẳng thể nào kháng cự,
Khi con cầu nguyện đến Ta, Liên Hoa Sinh xứ Orgyen,
Với lòng sùng mộ và những lời cầu nguyện mạnh mẽ, thiết tha.
Ta sẽ đến bên con.
Khi chúng ta quán tưởng và cầu khẩn Guru Rinpoche với lòng sùng mộ chân thành, Ngài sẽ hiện diện trước chúng ta. Nếu chúng ta chuẩn bị Mandala, bày biện các cúng dường và Torma trước hình ảnh Ngài, rồi hết lòng cầu nguyện, Ngài chắc chắn sẽ xuất hiện. Guru Rinpoche không phải là thân từ thịt, mà là thân ánh sáng; vì thế, bằng cách thiền định về hình tướng Ngài, chúng ta liên tục thọ gia trì của Ngài và cần khởi lên niềm tự hào linh thiêng. Bởi chính Guru Rinpoche đã nói rằng, “Bất kỳ ai cầu nguyện đến Ta với niềm tin mạnh mẽ, Ta chắc chắn sẽ xuất hiện trước họ”.
Guru Rinpoche nói theo cách này bởi Ngài thực sự có năng lực đó. Xưa kia ở Trung Hoa, một số đạo sư vĩ đại cũng hiển bày những dấu hiệu chứng ngộ một cách có chủ đích để phá tan sự kiêu ngạo của chúng sinh. Ví dụ có Phó Đại Sĩ, vị – cùng với Bồ Đề Đạt Ma và Thiền Sư Chí Công – được biết đến là một trong “Ba Đạo Sư Vĩ Đại Của Triều Lương”. Ngài tự xưng là “Đại Sư Trí Tuệ Tốt Lành, Vị Sẽ Giải Thoát Dưới Hai Cây Sa La” và về một số khía cạnh, thực hành và thành tựu của Ngài khá tương đồng với Guru Rinpoche. Thấy rằng nhiều người, bởi không biết chữ hoặc quá bận rộn, thiếu đi cơ hội đọc toàn bộ Tam Tạng Trung Hoa, Ngài đã chế tạo “tủ kinh văn xoay tròn”, những kinh luân lớn chứa đựng Tam Tạng, thứ được Ngài giới thiệu ở nhiều nơi, làm lợi lạc vô số chúng sinh. Đây là một hoạt động phi phàm.
Vị đạo sư này thực sự là ai? Ban đầu, Ngài là một người đánh cá, nhưng phương pháp đánh cá của Ngài khá lạ: bất cứ khi nào bắt được cá, Ngài thả giỏ cá xuống nước trở lại và nói với chúng, “Con nào muốn đi thì hãy đi; con nào muốn ở thì hãy ở”. Như thế, những con cá không có kết nối nghiệp với Ngài sẽ bơi đi, trong khi những con có kết nối sẽ ở lại.
Lần nọ, trong lúc Ngài đánh cá, một tu sĩ Ấn Độ lỗi lạc đến gần và bảo rằng, “Ông và tôi trước kia từng phát nguyện trước Phật Tỳ Bà Thi cùng nhau giải thoát chúng sinh. Ngay lúc này, y – bát của ông vẫn trên cõi trời Đâu Suất – khi nào thì ông trở lại?”. Nghe vậy, Ngài ngây người, chẳng biết phải đáp sao. Sau đó, vị tu sĩ Ấn Độ bảo Ngài nhìn vào bóng trên nước; khi nhìn, Ngài thấy phía trên đầu Ngài có lọng báu, hào quang và nhiều dấu hiệu cát tường khác; Ngài bỗng nhiên nhận ra kết nối trước kia. Ngài bỏ lại dụng cụ đánh cá, dựng một túp lều tranh dưới hai cái cây và từ đó, tinh tấn thực hành.
Bảy năm sau, ngày nọ trong lúc thiền định sâu, Ngài thấy Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Nhiên Đăng và Phật Kim Thóc phóng ánh sáng, thứ hòa vào Ngài và như thế, Ngài thọ gia trì của chư vị. Sau đó, Ngài thậm chí đã bán vợ mình và tổ chức một Pháp hội “vô ngại” vĩ đại, mở rộng; nhiều hoạt động của Ngài rất tương đồng với chư vị thành tựu Mật thừa ở vùng Tây Tạng. Tương truyền, Ngài mang giày của học giả Nho giáo, mặc y của tu sĩ Trung Hoa và đội vương miện của Đạo giáo khi vào cung điện để diện kiến Lương Vũ Đế. Nam Hoài Cẩn nhận xét rằng điều này đại diện cho các đặc điểm của Thiền Tông Trung Hoa: Hành vi Nho giáo là nền tảng, sự học hỏi Đạo giáo là nguyên tắc dẫn dắt và Phật Pháp ở trung tâm. Một số người, chẳng có mấy hiểu biết về Kim Cương thừa, khi nghe Guru Rinpoche miêu tả bản thân là “đạo sư thành tựu như vậy”, thấy kinh ngạc và khó chấp nhận. Thế nhưng, các đạo sư vĩ đại của truyền thống Phật giáo Trung Hoa cũng đã hiển bày hành vi phi phàm tương tự.
Giống như vậy, Sư Thiếu Khang, Ngũ Tổ của truyền thống Tịnh Độ, đã không nói gì từ khi chào đời. Lên bảy, Ngài cùng mẹ đến một ngôi chùa để lễ Phật. Khi mẹ Ngài hỏi, “Đây là ai?”, Ngài bỗng nhiên mở miệng và đáp, “Phật Thích Ca Mâu Ni”. Cha mẹ Ngài, quá đỗi hoan hỷ và xúc động, đã trao Ngài cho Tăng đoàn để đi tu. Sau đó, Ngài truyền bá rộng rãi giáo lý Tịnh Độ. Bất cứ khi nào Ngài ngự trên Pháp tòa và tụng lớn danh hiệu Phật A Di Đà, mỗi lần tụng, một hóa hiện Phật xuất hiện từ miệng Ngài; với mười lần tụng, mười hóa hiện Phật xuất hiện, tuôn trào thành một chuỗi liên tục như tràng hạt cầu nguyện.
Cũng có Thiền Sư Chí Công. Khi một họa sĩ cố gắng vẽ chân dung Ngài, trong chính khoảnh khắc ấy, Ngài đã hiển bày Quan Âm Thập Nhất Diện – vô cùng trang nghiêm, tỏa ra lòng từ và bi – khiến cho Trương Tăng Diêu, nổi tiếng là “họa sĩ hàng đầu về tranh Phật”, cũng chẳng thể vẽ lên lụa. Trong lịch sử Phật giáo Tây Tạng, các đạo sư vĩ đại như Zurchungpa và Zurpoche, cũng xuất hiện trong hình tướng Heruka. Có nhiều hiện tượng như vậy và mọi người cần hiểu chúng theo cách thức cởi mở hơn.
Chúng ta sẽ dừng ở đây hôm nay. Tôi muốn nói nhiều hơn, nhưng thời gian đã hết – thực sự chẳng có cách nào khác!
Khenpo Sodargye
Việt dịch: Pema Jyana
Nguồn Anh ngữ: https://khenposodargye.org/books/ebooks/invoking-guru-rinpoche-a-practical-commentary-on-the-seven-line-prayer/.