Hãy cùng nhau tiếp tục tìm hiểu về Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng. Trong bài giảng trước, chúng ta đã tìm hiểu bốn dòng đầu tiên, điều tập trung vào Đạo Sư Liên Hoa Sinh như là đối tượng của sự cầu khẩn. Hôm nay, chúng ta sẽ đến ý nghĩa của dòng thứ năm, sáu và bảy, cũng như Chân ngôn kết thúc.
Hiện tại, chúng ta đang tập trung vào nghĩa đen của lời cầu nguyện. Một sự tìm hiểu sâu sắc hơn về công đức bao la của lời cầu nguyện này, như được giới thiệu trong phần sau của Bạch Liên Hoa của Mipham Rinpoche, là chủ đề cho một dịp khác.
GURU RINPOCHE VÀ ĐOÀN TÙY TÙNG CỦA NGÀI KHÔNG KHÁC BIỆT VỀ BẢN TÍNH
Trì Minh thù thắng này, vĩ đại nhất trong những vị vĩ đại, được thân cận bởi những đệ tử phi phàm của Chân ngôn Bí mật. Bởi một nhóm nhiều Không Hành Nam và Không Hành Nữ, nhiều vô số như hạt trong một vỏ quả mè mở ra, bao quanh Ngài. Thực sự, Ngài được bao quanh bởi đại dương vô lượng chư Tôn Tam Căn và chư vị bảo hộ. Nhưng bởi đoàn tùy tùng này chính là sự hiển bày hư huyễn trí tuệ của chính Guru Rinpoche, điều làm lợi chúng sinh tùy theo nhu cầu, Ngài và đoàn tùy tùng của Ngài không khác biệt về bản tính và là đối tượng chung cho sự cầu khẩn của chúng ta.
Bao quanh Trì Minh thù thắng Guru Rinpoche, một đoàn tùy tùng nhiều vô số kể chư Không Hành Nam, Không Hành Nữ và những vị Trí Tuệ Tôn khác tập hợp thành từng lớp – nhiều như ruộng quy y mà chúng ta quán tưởng trong thực hành. Phía trên là chư đạo sư truyền thừa; đằng sau là Pháp bảo; bên trái và phải là chư Bồ Tát và A La Hán; khắp nơi xung quanh là chư vị Hộ Pháp vĩ đại, Không Hành Nam, Không Hành Nữ và các thành viên khác của tập hội. Chư vị an trụ nhiều vô số như những hạt trong vỏ quả mè khi mở ra, với chư Tam Căn và Hộ Pháp tất cả đều hiện diện và đầy đủ. Đấy là ý nghĩa của dòng thứ năm “Tập hội Không Hành Nữ vây quanh”.
Nếu bạn muốn mở rộng sự quán tưởng thêm nữa, hãy tưởng tượng tất cả chư Phật và Bồ Tát bao trùm toàn bộ hư không. Mỗi vị trong những vị tôn quý bao la và vô lượng này là hóa hiện diệu kỳ của Guru Rinpoche. Theo các giáo lý của Mật Điển Guhyagarbha và Đại Viên Mãn, vô số Không Hành Nữ, Không Hành Nam và Hộ Pháp bao quanh Guru Rinpoche, về tinh túy, đều là hóa hiện của chính Ngài. Giống như mặt trời và ánh sáng của nó, đoàn tùy tùng và vị Tôn chính yếu là bất khả phân và bất nhị. Tất cả cùng nhau tạo thành đối tượng duy nhất cho sự cầu khẩn của chúng ta.
Tất Cả Đạo Sư Là Một Về Tinh Túy
Người ta thường hỏi rằng: “Nếu tôi quán tưởng Guru Rinpoche, những vị Phật khác có phiền lòng không? Liệu Quán Thế Âm, vị mà tôi thường cầu nguyện, có không vui?”. Thực sự, không phải vậy chút nào. Như tôi đã nói trước đó, chư Phật ba thời có cùng tinh túy trong Pháp giới. Khi bạn quán tưởng một vị Phật, hãy nhận ra rằng tất cả chư Phật hiện diện bất khả phân trong Ngài. Khi bạn thực hành về một đạo sư, hãy quán tưởng rằng tinh túy của Ngài là bất nhị và bất khả phân với tinh túy của tất cả các đạo sư khác, chư Phật và Bồ Tát. Điểm này rất quan trọng.
Nếu không, bạn có thể thấy bản thân trong tình trạng khó xử như một số đệ tử từ năm ngoái khi tôi giảng dạy Đạo Sư Du Già. Họ cảm thấy rất bối rối: “Chao ôi, tôi có bảy hay tám đạo sư và mỗi vị đều vô cùng từ ái với tôi. Nếu tôi chỉ quán tưởng một vị, những vị khác có thể không hài lòng và tôi sẽ khiến chư vị thất vọng. Tôi đã nghĩ rất lâu về điều này, nhiều đến mức ban đêm tôi chẳng thể chợp mắt, nhưng vẫn chưa tìm ra giải pháp. Tôi nên làm gì? Ngài có phương pháp nào mà không cần thiết lập một thứ bậc, tôi có thể tưởng tượng đặt một tấm ván gỗ trên đầu, với tất cả đạo sư ngồi lên trong khi tôi nâng chư vị rồi tiến hành quán tưởng?”.
Tôi đáp rằng: “Điều đấy là không cần thiết. Chư Phật và Bồ Tát chưa từng dạy một Đạo Sư Du Già nào mà trong đó tất cả đạo sư được quán tưởng cùng ngồi trên một ván gỗ. Mặc dù thật tuyệt khi bạn có niềm tin như vậy với tất cả đạo sư của mình, khi thực hành, bạn chỉ cần quán tưởng một đạo sư là hiện thân của tất cả chư vị”.
Tương tự, quán tưởng Guru Rinpoche cũng không phải ngoại lệ. Bạn cần quán tưởng Ngài là bất nhị và bất khả phân với tất cả chư vị giác ngộ. Dodrupchen Rinpoche thứ Tư đã soạn một thực hành Đạo Sư Du Già đơn giản[1] mà cá nhân tôi đã thực hành. Tinh túy của thực hành này là quán tưởng Bổn Sư của mình là Đạo Sư Liên Hoa Sinh, nhận ra Ngài là bất nhị và bất khả phân với tất cả chư Phật và đạo sư. Nhờ làm vậy, chúng ta sẽ thọ nhận gia trì chân chính.
Ngày nay, một số người mới theo Phật giáo có nhiều mâu thuẫn nội tâm. Họ dường như muốn thực hành tất cả chư Phật và chư đạo sư, cảm thấy mỗi vị đều phi phàm – vị này sở hữu những phẩm tính thù thắng, vị kia ngập tràn lòng bi mẫn – và rằng họ muốn duy trì mối quan hệ tốt đẹp với tất cả, không muốn làm phật lòng vị nào. Tuy nhiên, về sự hành trì thực sự, họ tiếp tục xem những vị tôn quý này là các thực thể tách rời và riêng biệt – như thể, xin mượn một ví dụ từ lô-gích Phật giáo, “đây là tinh túy của lửa, đây là tinh túy của nước, đây là gió còn kia là đá” – tất cả về cơ bản tách rời và không thể nào hợp nhất. Suy nghĩ như vậy hoàn toàn dựa trên sự phân biệt quan niệm và bám chấp vào sự tồn tại thật sự của chúng sinh bình phàm và vì thế, không đúng.
Do đó, trong thực hành, bạn phải hiểu rằng tất cả đạo sư và Phật rốt ráo là một và giống nhau, bởi chư vị đều nhận ra cùng bản tính chói ngời của hình tướng và tính Không bất khả phân. Chỉ là về mặt vẻ ngoài quy ước, chư vị hiển bày trong những hình tướng khác nhau, chẳng hạn Văn Thù, Guru Rinpoche và những vị khác.
Nếu bạn thực sự muốn thực hành các vị Tôn khác nhau, bạn có thể thực hành Quán Thế Âm vào ban ngày và Guru Rinpoche vào ban đêm. Khi Guru Rinpoche sắp rời đến vùng đất của La Sát, Ngài đã để lại những chỉ dẫn chia tay này cho đệ tử may mắn: “Con cần thực hành Quán Thế Âm vào ban ngày và tụng Chân ngôn của Ngài; ban đêm, hãy thực hành nghi quỹ về Ta, Liên Hoa Sinh, và tụng Chân ngôn của Ta”. Như thế, thực hành một vị Tôn vào ban ngày và vị khác vào ban đêm cũng không hề mâu thuẫn. Theo nguyên tắc này, tham gia vào các thực hành khác nhau trong những thời khóa khác nhau vào ban đêm cũng là điều chấp nhận được. Nhưng nói chung, trong quán tưởng, bạn phải hiểu rằng tất cả chư vị giác ngộ có cùng một tinh túy và không có khác biệt giữa vị Tôn chính yếu và đoàn tùy tùng.
Đoàn Tùy Tùng Là Hóa Hiện Của Vị Tôn Chính Yếu
Nếu chúng ta có cơ hội cùng nhau nghiên cứu Tinh Túy Tịnh Quang trong tương lai, bạn sẽ hiểu tại sao đoàn tùy tùng là do vị Tôn chính yếu tự hóa hiện và tại sao cả hai là bất nhị và chẳng thể tách rời. Bộ luận này bao gồm các thực hành cụ thể và giáo lý triết học trực tiếp đề cập đến điểm này.
Nếu vị Tôn chính yếu và đoàn tùy tùng thực sự chẳng thể tách rời – với đoàn tùy tùng đơn giản là hóa hiện của vị Tôn chính yếu – thì khi quán tưởng ruộng quy y, với Phật Thích Ca Mâu Ni ở trung tâm và Tám Đại Bồ Tát bao quanh Ngài, có thể là Đức Phật và chư vị Bồ Tát đại diện cho những mức độ chứng ngộ khác nhau. Tuy nhiên, thực sự, tâm của vị Tôn chính yếu và tâm của đoàn tùy tùng là một và giống nhau.
Ngày nay, nhiều người thiếu nền tảng lý thuyết vững chắc về Kim Cương thừa và nhầm lẫn tin rằng chư vị giác ngộ tồn tại như những thực thể tách biệt. Đây là một hiểu lầm căn bản. Vì lý do này, điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là vị Tôn chính yếu và đoàn tùy tùng, là một về tinh túy rốt ráo, chính là đối tượng cho sự cầu khẩn của chúng ta.
CẦU NGUYỆN ĐẾN GURU RINPOCHE VỚI SỰ GIAO PHÓ HOÀN TOÀN
Với sự giao phó hoàn toàn, chúng ta cầu nguyện đến Guru Rinpoche. Với lòng mong mỏi sống động và niềm tin tin tưởng với những phẩm tính cao quý của Ngài, thứ giống như ngọc báu như ý, chúng ta bày tỏ lòng sùng mộ bằng từ ngữ và hành động, bằng cách cầu nguyện và đỉnh lễ. Biết rằng quy y như vậy là không lừa dối, chúng ta từ bỏ những thứ của thế gian này như rơm rác vô nghĩa, và với niềm tin tập trung và sự giao phó, chúng ta đi theo bước chân của Guru Rinpoche, thực hành không ngừng nghỉ.
Chúng ta cần cầu nguyện đến Guru Rinpoche bằng cách nào? Chúng ta cần cầu nguyện với niềm tin chân thành và sùng mộ. Điều quan trọng là hiểu rằng Guru Rinpoche và toàn bộ đoàn tùy tùng của Ngài không khác với ngọc báu như ý. Những kẻ cầu nguyện đến chư vị với niềm tin – dù là niềm tin sống động, niềm tin háo hức hay niềm tin tin tưởng – sẽ thọ nhận thành tựu và gia trì tùy theo mức độ sùng mộ. Vì vậy, trong lúc cầu khẩn, quan trọng là chúng ta cầu nguyện chân thành từ đáy lòng, diễn tả lòng sùng mộ thông qua cả thân và khẩu, tức là, bằng cách tụng những lời cầu nguyện bằng giọng du dương và dễ nghe, và bằng cách cung kính chắp tay lại và đỉnh lễ bằng thân.
Chúng ta cần nhận ra rằng những phẩm tính của chốn quy y như vậy thực sự là chân chính và không sai trệch, như thế, từ bỏ mọi bận tâm thế tục như thể chúng là rơm rác, giao phó bản thân và tất cả hữu tình chúng sinh một cách toàn tâm toàn ý cho Guru Rinpoche và thực hành mà chẳng bao giờ rời xa Ngài. Điều này giải thích dòng thứ sáu: “Theo bước chân Ngài, con tu tập”.
Trên thế giới này, có các truyền thống tôn giáo khác, chẳng hạn Thiên Chúa giáo hay Ấn Độ giáo. Một số nương tựa Chúa trong khi số khác hướng về Phạm Thiên, Đại Thiên hay những vị thần khác. Tuy nhiên, không vị nào trong số này có thể ban hạnh phúc rốt ráo của sự giải thoát; vì vậy, chư vị không phải là đối tượng quy y rốt ráo. Nương tựa chư vị có thể đem đến sức khỏe và của cải tạm thời, chẳng gì khác hơn. Để hoàn toàn giải thoát khỏi khổ đau ghê gớm của sinh và tử trong sự tồn tại xoay vòng, chúng ta phải hoàn toàn nương tựa Đạo Sư Liên Hoa Sinh. Do đó, chúng ta cần giao phó mọi thứ cho Ngài, mãi mãi tuân theo sự dẫn dắt của Ngài trong thực hành và quán chiếu theo cách này khi bắt đầu những lời cầu nguyện.
Vì thế, chúng ta bạch Ngài, nói rằng,
Đấng bảo hộ chân chính, không sai trệch với lòng bi mẫn vô lượng, ngay chính khoảnh khắc này, đừng quay lưng với chúng con và những kẻ như chúng con, chết đuối trong đại dương ba khổ đau. Xin hãy giáng lâm, ban gia trì. Giống như nhà giả kim, hãy biến sắt thành vàng: Bằng tam mật chẳng thể nghĩ bàn của thân, khẩu và ý giác ngộ của Ngài, hãy gia trì thân, khẩu và ý bình phàm của tất cả chúng con, những kẻ đặt hy vọng nơi Ngài và hướng về Ngài quy y. Và từ Núi Màu Đồng – hoặc từ bất cứ cõi Phật Hóa thân tự nhiên nào mà Ngài đang cư ngụ – xin hãy đến, trong sự thiện xảo lớn lao của lòng bi mẫn, và ở bên chúng con.
Điều cốt yếu là cầu nguyện với ý định chân thành và tha thiết. Nếu bạn có thể quán tưởng Đạo Sư Liên Hoa Sinh, xin hãy làm thế. Nếu không, bạn có thể đặt một thangka, hình ảnh hay bức tượng Guru Rinpoche trước bạn như là sự hỗ trợ cho lòng sùng mộ, cầu nguyện với sự cung kính và chân thành.
Trong lúc cầu nguyện, bạn cần quán chiếu theo cách này:
“Đấng bảo hộ không sai trệch với lòng bi mẫn vô lượng, con và tất cả chúng sinh đáng thương lang thang lạc đường trong tam giới luân hồi. Xin hãy chấp nhận chúng con làm đệ tử của Ngài và không bao giờ từ bỏ chúng con.
Với lòng sùng mộ chân thành, con cầu nguyện rằng nhờ gia trì từ thân, khẩu và ý chẳng thể nghĩ bàn của Ngài, Ngài nhanh chóng chuyển hóa tâm bình phàm của chúng con – bị phiền nhiễu bởi năm độc là tham, sân, si, kiêu ngạo và đố kỵ – thành trí tuệ chói ngời, giống như nhà giả kim biến kim loại tầm thường thành vàng quý”.
Cuối cùng, hãy cầu nguyện Ngài hiện diện: “Mặc dù Ngài, Guru Rinpoche, đang cư ngụ ở vùng đất của La Sát, chúng con, chúng sinh may mắn của Nam Thiệm Bộ Châu, thiết tha gọi Ngài như đứa con duy nhất gọi mẹ của nó. Xin hãy nhớ về những nguyện quá khứ của Ngài và bằng sức mạnh chẳng thể nghĩ bàn của lòng đại bi, hãy trực tiếp đến với chúng con, như ánh trăng chiếu sáng trên ao tĩnh lặng và hãy để mọi phẩm tính của sự chứng ngộ của Ngài hoàn toàn hòa quyện vào tâm chúng con!”. Điều này giải thích dòng thứ bảy: “Xin Ngài giáng lâm, ban gia trì”.
Dĩ nhiên, sau khi nghe những giáo lý này, các Pháp hữu khác nhau có thể có những trải nghiệm khác nhau: một số, có lẽ bởi nghiệp chướng nặng nề từ nhiều đời trước, không thể phát khởi niềm tin với Đạo Sư Liên Hoa Sinh và chư đạo sư bất kể có cố gắng đến đâu và điều này cản trở công đức khởi lên trong dòng tâm họ; số khác, bởi thiện căn sâu dày từ nhiều đời trước và thuận duyên cho thực hành Pháp trong đời này, thấy rằng mọi thực hành đều rất dễ dàng – giống như một số đạo sư vĩ đại, bất kể chư vị thực hành ở đâu, dù ở nơi cô tịch hay giữa những ồn ào của thế gian, đều nhanh chóng trải qua dấu hiệu thành tựu và tự nhiên khởi lên niềm tin trong dòng tâm. Cũng có một số người xem Đạo Sư Liên Hoa Sinh và Phật Thích Ca Mâu Ni là chúng sinh bình phàm, cảm thấy không hứng thú khi nghe nói về hoạt động của chư vị, mà lại lập tức hăng hái và ngập tràn niềm tin khi nói về tinh linh thế gian hay Long vương. Tất cả điều này liên quan đến những kết nối nghiệp từ các đời quá khứ và công đức tích lũy trong đời này.
Tầm Quan Trọng Của Thực Hành Đạo Sư Du Già Và Trì Tụng Chân Ngôn
Một số Pháp hữu thường nói với tôi rằng khi thực hành Đạo Sư Du Già, họ thấy rất khó để nhìn nhận đạo sư là một vị tôn quý, không lỗi lầm. Họ đơn giản không thể phát khởi nhận thức thanh tịnh này và chính khó khăn này trở thành chướng ngại với thực hành của họ. Theo những lời dạy của chư đạo sư truyền thừa, nếu người ta thiếu nhận thức thanh tịnh với đạo sư, họ cần tụng Chân ngôn Kim Cương Tát Đỏa thường xuyên hơn để tịnh hóa nghiệp chướng – điều này vô cùng quan trọng! Thực sự, đạo sư có thể không có lỗi lầm, nhưng bởi tâm chúng ta bất tịnh và không thể phát khởi niềm tin, điều này tạo ra chướng ngại ghê gớm đối với thực hành của bản thân.
Bất kể bạn thiếu kinh nghiệm thế nào trong các thực hành khác, tất cả cần có khả năng thực hành Đạo Sư Du Già. Ở vùng Tây Tạng có câu nói rằng: “Thậm chí nếu không thể tham gia vào bất kỳ thực hành nào khác, cứ ngồi xuống và thực hành Đạo Sư Du Già mỗi ngày đã khiến bạn thành hành giả trung bình”. Ví dụ, một số người thấy thật khó để thiền định về tính quý báu của đời người hay lẽ vô thường của cuộc sống, nhưng tụng Chân ngôn Guru Rinpoche hay lời cầu nguyện đến đạo sư của bạn mỗi ngày không quá khó. Dĩ nhiên, khi trì tụng, một số có thể quán tưởng rõ ràng, trong khi số khác thì không, nhưng ngay cả khi sự quán tưởng không rõ, cầu nguyện đến một đối tượng của lòng sùng mộ đầy gia trì thì vẫn ý nghĩa và phước đức.
Ngày nay, một số có thể phát triển niềm tin với bất kỳ thực hành nào, trong khi số khác thì ngược lại. Khác biệt này có thể liên quan đến sự tinh tấn trong thực hành tâm linh.
Vài ngày trước, tôi đã gặp một ông lão. Nhiều năm về trước, tại Tu viện của tôi, trước một Khenpo lớn tuổi, ông đã phát nguyện trì tụng một trăm triệu biến Chân ngôn Quán Thế Âm. Gần đây, ông đã hoàn thành trì tụng và đến Tu viện để thỉnh cầu vị Khenpo hồi hướng công đức. Ở vùng Tây Tạng, nhiều người từng hoàn thành một trăm triệu biến Chân ngôn Quán Thế Âm. Tuy nhiên, trong những hành giả ở các thành phố của Trung Hoa, rất hiếm người đạt được cột mốc này. Thậm chí những vị từng tích lũy mười triệu biến cũng hiếm, bất kể họ già hay trẻ.
Trên thực tế, thậm chí nếu bạn thực sự thiếu khả năng nghiên cứu, quán chiếu và thiền định, tụng các Chân ngôn vẫn cực kỳ ý nghĩa. Nếu trong đời này, bạn có thể tích lũy mười triệu hay thậm chí là một trăm triệu biến Chân ngôn Guru Rinpoche, bạn sẽ không bao giờ bị phiền nhiễu bởi các chướng ngại khác nhau trong mọi đời tương lai; và nếu bạn có thể tích lũy một trăm triệu biến Chân ngôn Quán Thế Âm, công đức cũng chẳng thể nghĩ bàn.
Trong tương lai, khi thời điểm thích hợp, tôi dự định nói nhiều hơn về những lợi lạc của trì tụng Chân ngôn. Hiện nay, một số người không trì tụng Chân ngôn cũng không tham gia vào các thực hành quán tưởng; thay vào đó, họ dành mỗi ngày để nói về những chuyện tầm thường hay vô nghĩa. Đây thực sự là một sự lãng phí ghê gớm đời người quý báu này. Với thân người hiếm có như vậy, nếu bạn không tụng Chân ngôn cũng không tham gia vào bất kỳ thực hành nào – đơn thuần thức dậy vào buổi sáng để ăn, ngủ rất nhiều vào ban đêm và trong khi những người khác đã đi làm, bạn vẫn “thiền” trên giường – làm sao bạn có thể được xem là một hành giả chân chính?
Là hành giả, ít nhất, bạn cần thực hành Đạo Sư Du Già đều đặn. Có một đạo sư Tây Tạng vĩ đại từng dạy một thực hành Đạo Sư Du Già đơn giản. Ngài nói rằng nếu thiếu thời gian hay thuận duyên để thực hành Pháp, bạn có thể tụng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng ba biến, sau đó tụng ít nhất 1000 biến Chân ngôn Guru Rinpoche và điều này được xem là hoàn thành một thời khóa Đạo Sư Du Già. Thực hành Guru Rinpoche này khá đơn giản. Thực sự, nhiều nghi quỹ Guru Rinpoche được soạn bởi các đạo sư khác nhau khá cô đọng. Dĩ nhiên, nếu bạn muốn thực hành mở rộng hơn, bạn có thể hướng về Drubpa Kagye, Tám Giáo Lý Nghi Quỹ Vĩ Đại – điều mô tả các hóa hiện khác nhau của Guru Rinpoche, đôi khi xuất hiện trong hình tướng an bình và lúc khác thì phẫn nộ.
Hãy Hiểu Đúng Về Biệt Giải Thoát Giới Trong Phật Giáo Tây Tạng
Ngày nay, một số người, không hiểu được những phẩm tính giác ngộ của Guru Rinpoche, xem Đức Liên Hoa Sinh đơn thuần là một cư sĩ bình thường. Tôi từng đọc một cuốn sách nói rằng, “Liên Hoa Sinh đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập và truyền bá Phật giáo Tây Tạng. Ông là một cư sĩ và bởi sức ảnh hưởng của ông, tất cả trụ trì ở vùng Tây Tạng cũng có vợ”. Mặc dù tác giả có những đóng góp quan trọng cho Phật giáo và sở hữu kiến thức đáng kể về chủ đề, khẳng định này của ông ấy, từ quan điểm lô-gích Phật giáo, đã rơi vào sự ngụy biện của không chắc chắn và không bao quát.
Bất kỳ ai từng viếng thăm vùng Tây Tạng đều biết rằng rất nhiều Tăng đoàn tu sĩ giữ Biệt Giải Thoát giới thanh tịnh đang phát triển ở đó. Chỉ tính riêng Châu Garze, với 18 đơn vị cấp huyện, thống kê chính phủ cho thấy có hơn 50000 tu sĩ. Từ đó, chúng ta có thể tưởng tượng xem ở toàn bộ vùng Tây Tạng có bao nhiêu tu sĩ trì giới thanh tịnh. Vì vậy, thật vô lý khi những người không quen thuộc tình hình thực tế lại đưa ra những tuyên bố chung chung như vậy về Phật giáo Tây Tạng, khiến nhiều người tin vào những nhận thức sai lầm.
Điều quan trọng là hiểu rằng Guru Rinpoche không phải là người phàm. Chỉ sau khi Ngài điều phục các vị thần địa phương khác nhau và chúng sinh phi nhân thì Phật giáo mới có thể phát triển ở vùng Tây Tạng và thịnh vượng cho đến ngày nay. Một thành tựu như vậy vượt xa khả năng của người thường. Hơn thế nữa, chỉ riêng các Terma của Guru Rinpoche, điều từng được phát lộ, đã vượt xa toàn bộ các tuyển tập Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh và Càn Long Đại Tạng Kinh.
Nếu không tin, bạn có thể tự mình kiểm tra: Có bao nhiêu quyển Terma mà mỗi vị Terton vĩ đại đã phát lộ? Và bao nhiêu thực hành nằm trong mỗi quyển? Khi hiểu điều này, bạn chắc chắn sẽ nhận ra rằng, “Khẳng định trước kia của chúng ta về Guru Rinpoche thực sự hạn chế và thiếu thông tin!”. Vì lẽ đó, nếu ai đó không biết sự thật và vội vàng kết luận dựa trên lời đồn, họ cuối cùng sẽ tự mình hối tiếc.
Thực sự, Phật giáo Tây Tạng nhấn mạnh tầm quan trọng lớn lao của Biệt Giải Thoát giới. Bạn có thể tự mình tìm hiểu: Tất cả các Tu viện Tây Tạng đầu tiên học hỏi các giới nào? Những giới này được thực hành và gìn giữ ra sao? Mặc dù có một số thực hành hiếm trong Kim Cương thừa liên quan đến vị phối ngẫu, thực hành như vậy không xảy ra trong môi trường Tu viện được quản lý nghiêm ngặt. Hơn thế nữa, ngay cả những thực hành phi phàm này cũng có những giải thích sâu sắc hơn và không nên bị đánh giá đơn thuần bởi vẻ bề ngoài của chúng.
Ý NGHĨA CHÂN NGÔN GURU RINPOCHE
Sau khi khơi dậy gia trì của Đạo Sư như vậy, chúng ta tụng Chân ngôn của Ngài.
Guru là vị “trĩu nặng những phẩm tính hoàn hảo”, bậc thầy vô song. Padma là phần đầu tiên trong danh hiệu của đạo sư vĩ đại xứ Orgyen, trong khi Siddhi nhắc đến những thành tựu thù thắng và thông thường, điều chính là mục tiêu của chúng ta. Cuối cùng, với Hung, chúng ta triệu thỉnh đạo sư tôn quý, khẩn nài Ngài ban thành tựu.
Đấy là cách chúng ta cầu nguyện đến đạo sư vĩ đại xứ Orgyen, hiện thân của tất cả chư Phật.
Bây giờ, hãy cùng tìm hiểu dòng cuối cùng của Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng:
Sau khi tụng những lời cầu khẩn gia trì, chúng ta cũng cần tụng Chân ngôn của Guru Rinpoche. Ở đây, Guru nghĩa là “trĩu nặng” – ám chỉ rằng bậc thầy trĩu nặng mọi phẩm tính hoàn hảo. Ngài là đối tượng tôn kính quan trọng nhất, thù thắng và vô song. Padma nghĩa là “hoa sen” và bởi Guru Rinpoche sinh ra từ bông sen, Ngài được gọi là Liên Hoa Sinh (Padmasambhava), với Padma là phần đầu tiên trong danh hiệu. Siddhi nhắc đến những thành tựu thù thắng và thông thường. Thành tựu thù thắng là Phật quả còn thành tựu thông thường nghĩa là tám thành tựu phổ thông. Hung là chủng tự thỉnh cầu việc ban các thành tựu như vậy.
Nói một cách đơn giản, Guru là đạo sư, Padma là Padmasambhava, Siddhi là thành tựu còn Hung là ban tặng. Cùng nhau, nó nghĩa là: “Với lòng sùng mộ chân thành, chúng con cầu nguyện đến Ngài, Guru Padmasambhava – xin hãy ban cho chúng con thành tựu thù thắng và thông thường”. Đấy là ý nghĩa cốt yếu của Chân ngôn Guru Rinpoche. Nói ngắn gọn, chúng ta cần nương tựa lời cầu nguyện này và chân thành cầu khẩn Đạo Sư Liên Hoa Sinh, hiện thân của tất cả chư Phật.
TÓM LƯỢC NGẮN GỌN Ý NGHĨA CỦA LỜI CẦU NGUYỆN BẢY DÒNG
Dòng đầu tiên của lời cầu nguyện hé lộ địa điểm Ngài chào đời; dòng thứ hai, cách thức Ngài chào đời; dòng thứ ba chỉ ra bản tính phi phàm trong sự vĩ đại của Ngài; và dòng thứ tư hé lộ cụ thể danh hiệu thật sự của Guru Rinpoche.
Để ôn lại điều mà chúng ta vừa thảo luận, trong lời cầu nguyện này:
Dòng thứ nhất, “Ở Tây Bắc vùng đất Orgyen” chỉ ra nơi sinh của Guru Rinpoche.
Dòng thứ hai “Ở giữa của một bông hoa sen” miêu tả cách thức Ngài sinh ra. Guru Rinpoche không sinh ra từ tử cung, trứng hay sự ẩm ướt. Giống như chư Bồ Tát của cõi Cực Lạc, Ngài diệu kỳ sinh ra ở giữa của một bông hoa sen.
Dòng thứ ba, “Sở hữu những thành tựu thù thắng” tuyên bố về những phẩm tính phi phàm và thành tựu của Guru Rinpoche – Ngài trước tiên xuất hiện trên thế gian, ngự trên ngai tòa hoàng gia, từ bỏ để thực hành ở nghĩa địa và làm lợi lạc hữu tình chúng sinh ở Ấn Độ và Xứ Tây Tạng. Theo một nghiên cứu mà tôi từng đọc, một số nhà khảo cổ từng nghiên cứu về Đức Liên Hoa Sinh đã kết luận rằng Guru Rinpoche sống trên thế gian hơn 1600 năm. Trong các tài liệu lịch sử khác nhau, sự chào đời của Guru Rinpoche được ghi lại khác nhau. Một số nói rằng Ngài sinh ra ở giữa bông sen tám năm sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn; một số cho rằng là sau hơn một thập niên. Ngài đã hiển bày trong những hình tướng khác nhau để làm lợi lạc chúng sinh ở Ấn Độ, sau đó đến Xứ Tây Tạng và cuối cùng, rời đến vùng đất của La Sát.
Những thành tựu thù thắng của Guru Rinpoche hoàn toàn vượt khỏi tầm với của người bình phàm. Ngày nay, nếu ai đó sống hơn trăm năm, người ta cho rằng điều đó phi phàm, nhưng kiểu trường thọ và chứng ngộ mà Guru Rinpoche đạt được là điều gì đó mà họ thậm chí còn chưa từng nghe nói. Chính bởi họ không hiểu, có rất ít ý nghĩ tích cực và nhiều quan điểm tiêu cực, sai lầm. Với những người như vậy, tôi tin rằng cả nghiên cứu và quán chiếu Phật Pháp là điều cốt yếu. Tôi từng có một người quen; ban đầu, người này khá phê phán Kim Cương thừa. Tuy nhiên, sau khi đọc nhiều bản văn Terma và các nghi quỹ thù thắng, anh ta hoàn toàn vượt qua những quan niệm sai lầm của bản thân. Vì thế, với những người ban đầu có nghi ngờ, dần dần tìm hiểu thêm về giáo lý Mật thừa sẽ tự nhiên làm khởi lên sự hiểu đúng đắn.
Dòng thứ tư, “Vang danh là Đức Liên Hoa Sinh” hé lộ danh hiệu thực sự của Guru Rinpoche.
Dòng thứ năm nhắc đến đoàn tùy tùng của Đạo Sư, chư Không Hành Nam và Không Hành Nữ, những vị mà chúng ta cũng cầu nguyện đến, nhưng thực sự chính là sự hiển bày của lòng bi mẫn của Ngài, điều giúp đỡ chúng sinh tùy theo nhu cầu. Dòng thứ sáu chỉ cho chúng ta cách mà chúng ta cần cầu nguyện. Sau khi thấy được những phẩm tính của Đạo Sư, chúng ta hướng tâm mình về Ngài và cầu nguyện với niềm tin không thể đảo ngược, diễn tả lòng sùng mộ của bản thân cả bằng thân và khẩu – mong mỏi cuối cùng trở nên bất khả phân với Ngài. Dòng thứ bảy, cùng với Chân ngôn, chỉ ra rằng nhờ cầu khẩn như vậy, tâm chúng ta được gia trì và chúng ta sẽ đạt thành tựu.
Dòng thứ năm, “Tập hội Không Hành Nữ vây quanh” chỉ ra rằng Guru Rinpoche và tất cả đoàn tùy tùng của Ngài đều là đối tượng cho những lời cầu nguyện của chúng ta.
Dòng thứ sáu, “Theo bước chân Ngài, con tu tập”, giải thích cách mà chúng ta cần thực hành – không phải bằng cách đi theo con đường của ngoại đạo hay quan điểm vô thần, mà bằng cách đi theo Guru Rinpoche. Dĩ nhiên, “đi theo” không có nghĩa là đuổi theo đạo sư khắp nơi, nói rằng, “Thầy ơi, xin đừng bỏ con – con phải nắm lấy ‘đuôi’ Ngài”, cứ như thể Ngài thực sự có đuôi. Thay vào đó, nó nghĩa là thực hành theo giáo lý của Ngài và tuân theo chỉ dẫn của đạo sư.
Dòng thứ bảy, “Xin Ngài giáng lâm, ban gia trì” cùng với Chân ngôn “Guru Padma Siddhi Hung” diễn tả rằng sau khi nhận ra những phẩm tính của Guru Rinpoche, chúng ta cầu nguyện đi theo Ngài với niềm tin không dao động, khát khao đạt được sự chứng ngộ giống như Ngài. Với thái độ này, chúng ta cầu khẩn bằng thân, khẩu và ý và nhờ cầu nguyện như vậy, chúng ta thọ nhận gia trì và thu thập các thành tựu (Siddhi).
Thọ Gia Trì Của Guru Rinpoche Không Trì Hoãn
Nếu chúng ta có lòng sùng mộ và nếu chúng ta cầu nguyện đến Guru Rinpoche, vị trụ trong thân trí tuệ bất diệt trong cõi Phật Hóa thân tự nhiên, gia trì từ lòng bi mẫn của Ngài sẽ lập tức và chắc chắn thâm nhập chúng ta.
Nếu chúng ta cầu nguyện đến Guru Rinpoche với tâm cung kính và sùng mộ, Ngài dứt khoát sẽ lập tức gia trì chúng ta bằng lòng đại bi. Mấu chốt là liệu chúng ta có thể phát khởi niềm tin như vậy hay không. Dĩ nhiên, điều này cũng phụ thuộc vào công đức của chúng ta. Mặc dù tôi từng dạy về thực hành Guru Rinpoche trên lớp, công đức và niềm tin của mỗi người thì khác nhau; vì thế, kết quả mà họ nhận được cũng khác biệt. Điều đó không giống như phân phát tiền, khi mà mỗi người đều được như nhau. Về lắng nghe Giáo Pháp và thực hành, điều bạn có được tùy thuộc vào niềm tin và sự tinh tấn của chính bạn; chỉ như thế, bạn mới có thể nhận được phần của chính mình.
Như tôi đã nhắc đến trước đó, Choje Yidzhin Norbu chỉ nương tựa Thubga Yidzhin Norbu tại Phật học viện Changma trong sáu năm; thế nhưng, Ngài thọ nhận mọi phẩm tính và gia trì từ đạo sư. Trái lại, một số người ở lâu hơn nhiều, nhưng sự chứng ngộ thì hoàn toàn khác biệt. Điều này đúng với Jigme Gyalwe Nyugu. Theo tiểu sử, Ngài không dành nhiều thời gian bên đạo sư – Đức Jigme Lingpa, nhưng mỗi lần đến gặp đạo sư, Ngài ngập tràn niềm hoan hỷ và kính trọng lớn lao. Ngài thực sự xem đạo sư của mình là Phật. Lòng sùng mộ của Ngài thực sự chẳng thể diễn tả. Kết quả là, mọi phẩm tính và gia trì từ tâm trí tuệ của đạo sư rót vào Ngài như nước đổ đầy bình. Vì thế, khi nương tựa đạo sư và lắng nghe Giáo Pháp, nhân tố quan trọng nhất là bản thân. Điều này giống với việc học hỏi trong thế giới bình thường: Trong cùng một phòng học, một số học sinh rất thông minh nhưng cuối cùng lại thi trượt, trong khi số khác thường không nổi bật lại được nhận vào đại học danh giá. Do đó, kết quả của sự nghiên cứu và thực hành Giáo Pháp liên hệ mật thiết với niềm tin và công đức của chính chúng ta.
Nói ngắn gọn, khi trì tụng Chân ngôn hay lời cầu nguyện đến Guru Rinpoche, tôi mong rằng tất cả có thể duy trì lòng sùng mộ chân thành càng nhiều càng tốt. Nếu có thể làm vậy, bạn sẽ không giống như người bình thường, những vị mà phiền não của tham, sân, si, kiêu ngạo và đố kỵ bùng cháy dữ dội. Khi gia trì của chư Phật và Bồ Tát dần dần hòa vào tâm bạn, sức mạnh bên trong của bạn sẽ chuyển hóa và không thực hành nào là quá khó. Mặt khác, nếu bạn không thọ nhận gia trì của đạo sư và Tam Bảo, mà hoàn toàn nương tựa vào lối suy nghĩ quan niệm thông thường, bạn chắc chắn sẽ gặp phải khó khăn lớn lao. Vì thế, điều quan trọng là thực hành với tâm cung kính và sùng mộ.
HƯỚNG DẪN CỦA CHÍNH GURU RINPOCHE VỀ TIN TƯỞNG CẦU NGUYỆN ĐẾN NGÀI
Trong Tâm Yếu Bảy Dòng, một bản văn kho tàng được phát lộ bởi Guru Chokyi Wangchuk, chính Guru Rinpoche đã miêu tả cách thức mà chúng ta cần tin tưởng cầu nguyện đến Ngài:
Kính lễ Bổn tôn!
Nếu con, đứa con cao quý của Ta, người con hạnh phúc vào thời tương lai,
Xem Ta, Đấng Orgyen, là quy y của mình,
Hãy ở chốn cô tịch và để trái tim con ngập tràn
Nỗi buồn trước thế giới thoáng qua này,
Và – đây là điểm trọng yếu – chán ghét luân hồi.
Sau khi Guru Rinpoche đỉnh lễ Bổn tôn của Ngài, Ngài nói rằng, “Này những người con may mắn trong các thế hệ tương lai, nếu con tìm kiếm sự bảo vệ và quy y từ Ta, trước tiên con phải ở chốn linh thiêng hẻo lánh hay một căn phòng yên tĩnh và phát khởi cảm giác mạnh mẽ về sự vỡ tan ảo mộng với tám bận tâm thế tục – chẳng hạn danh, lợi và địa vị. Bị cuốn đi bởi sự vỡ mộng như vậy, thực hành của con chắc chắn sẽ thành công. Hãy bắt đầu thực hành với thái độ từ bỏ luân hồi”.
Nếu bạn không từ bỏ luân hồi và bạn thực hành Guru Rinpoche với hy vọng thành công trong kinh doanh và kiếm được tiền, để sau đó, bạn có thể tận hưởng cuộc sống xa hoa – ngủ thoải mái và đắm chìm cả ngày – ngay cả khi bạn tụng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng với lòng mong mỏi mãnh liệt trong khi nuôi dưỡng ham muốn như vậy, thực hành của bạn sẽ không thành công. Nó giống như trồng trọt: trước tiên bạn phải dọn dẹp và cày xới mảnh đất khô cằn; nếu không, ngay cả khi bạn gieo hạt, sẽ chẳng thu hoạch được gì. Tâm chúng ta giống như vậy – nếu chúng ta không tiến hành thực hành với sự vỡ mộng và xả ly, chúng ta sẽ hoàn toàn lạc lõng với Giáo Pháp và không sự hành trì nào được hiệu quả. Vì thế, điều trọng yếu là thực hành bắt đầu bằng xả ly. Một số người, mặc dù sống trong thế giới bình phàm, cảm thấy cuộc đời như vậy là vô nghĩa và họ chỉ đơn thuần bị kéo đi bởi nghiệp. Với tâm thế này, thực hành của họ có hy vọng.
Dĩ nhiên, xã hội hiện đại nhấn mạnh vào “phát triển” – các cá nhân phải phát triển, tập thể phải phát triển. Nếu chúng ta nói đến phát khởi sự xả ly và chẳng mấy hứng thú với những mục tiêu thế tục, một số có thể xem đây là tâm thế tiêu cực và không muốn tán dương. Tuy nhiên, thực hành tâm linh siêu việt chân chính thường trái với các giá trị thế gian. Như Lời Vàng Của Thầy Tôi tuyên bố, chúng là những hướng hoàn toàn trái ngược: người ta khát khao về đời tương lai trong khi số khác chỉ tìm kiếm đời này – vì thế, miễn là họ hiện tại hạnh phúc, điều xảy ra trong đời sau chẳng được quan tâm. Do đó, là hành giả, trước tiên chúng ta phải kiểm tra tâm thế của bản thân và thực hành trên nền tảng của xả ly.
Triệu Thỉnh Guru Rinpoche Như Thế Nào Bằng Lời Cầu Nguyện
Vậy chúng ta cần thực hành cụ thể ra sao?
Sau đó, hãy trao cho Ta tâm trí con, toàn bộ con người con,
Xem Ta, Đấng Orgyen, là vị mà
Con đặt hy vọng của mình, quy y hoàn hảo.
Hãy nương tựa Ta trong tất cả những hy vọng và buồn rầu.
Cắt đứt việc theo đuổi của cải, hãy liên tục dâng cúng dường và tán thán.
Đơn giản với lòng sùng mộ trong thân, khẩu và ý con,
Hãy triệu thỉnh Ta bằng lời cầu nguyện gồm bảy dòng này:
“Hung! Ở Tây Bắc vùng đất Orgyen,
Ở giữa của một bông hoa sen
Sở hữu những thành tựu thù thắng,
Vang danh là Đức Liên Hoa Sinh,
Tập hội Không Hành Nữ vây quanh.
Theo bước chân Ngài, con tu tập,
Xin Ngài giáng lâm, ban gia trì!
Guru Padma Siddhi Hung”
Hãy nhất tâm nương tựa Guru Rinpoche, hiểu rằng mọi đối tượng quy y – chư Tam Căn, Hộ Pháp và tất cả chư Phật cũng như Bồ Tát – đều hoàn hảo viên mãn trong đàn tràng của Guru Rinpoche. Hãy hoàn toàn giao phó mọi vui – buồn của cuộc đời này cho Guru Rinpoche, để Ngài quyết định và biết rõ. Hãy liên tục dâng cúng dường và tán thán, từ bỏ ham muốn tích lũy của cải thế gian, duy trì sự kính trọng bằng thân, khẩu và ý; và lặp đi lặp lại cầu khẩn bằng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng.
Khi chúng ta cầu nguyện đến đạo sư và Tam Bảo, điều đó không phải chỉ là để được hạnh phúc. Thực sự, hạnh phúc là gia trì của đạo sư và khổ đau cũng gia trì của đạo sư – đây là điểm trọng yếu của luyện tâm. Tuy nhiên, nhiều người không nhận ra điều này. Họ nghĩ rằng chỉ hạnh phúc mới là gia trì, còn khổ đau thì chắc chắn không phải. Vì thế, khi gặp đau đớn, họ than phiền: “Con tụng danh hiệu Đức Phật mỗi ngày – Phật ơi, sao Ngài không quan tâm đến con? Tại sao không gia trì con? Tại sao Ngài để con đau khổ đến vậy?”. Lối suy nghĩ này là sai lầm, điều trở nên rõ ràng khi bạn nghiên cứu các giáo lý luyện tâm của Đại thừa.
Như thế, hãy cầu nguyện đến Ta lặp đi lặp lại,
Với lòng sùng mộ sâu sắc, nước mắt tuôn trào.
Với niềm tin mãnh liệt, khi thân thể con rúng động,
Hãy lập tức ổn định trong trạng thái sáng tỏ rõ ràng,
Quán sát không dao động sự thanh tịnh tự do và vô cấu nhiễm!
Khỏi cần phải nói, Ta sẽ bảo vệ
Những con trai và gái cầu nguyện như vậy đến Ta!
Khi trì tụng với niềm tin mãnh liệt, vào một lúc nào đó, bạn sẽ xúc động trước lòng từ ái của Guru Rinpoche đến mức nước mắt tự nhiên chảy và thân thể bạn rúng động. Những dấu hiệu này xuất hiện khi một hành giả có niềm tin vô cùng mạnh mẽ. Vào lúc này, hãy nghỉ ngơi tự nhiên trong trạng thái sùng mộ sâu sắc đó, thứ rõ ràng, sáng tỏ và tự nhiên. Nói cách khác, khi niềm tin vô cùng mãnh liệt khởi lên nhờ sự cầu khẩn của bạn, hãy an trú tự nhiên và quán sát bản tính của tâm bạn. Ở đây, chúng ta đang chạm đến những giáo lý Mật thừa cao cấp. Về những đệ tử cầu nguyện với lòng sùng mộ như vậy, Guru Rinpoche dứt khoát sẽ bảo vệ và gia trì.
Hoàn Thiện Mọi Phẩm Tính Nhờ Thực Hành Này
Họ trở thành con của chư Phật ba thời.
Quán đỉnh giác tính đạt được trong tâm họ,
Sự tập trung của họ nghỉ ngơi trong sức mạnh ổn định và trí tuệ bung nở.
Nhờ lực gia trì vĩ đại và tự sinh,
Họ sẽ đạt đến sự chín muồi;
Họ sẽ xua tan khổ đau của chúng sinh và trở thành những đấng bảo hộ.
Họ trở thành con của chư Phật ba thời và thọ nhận quán đỉnh vĩ đại. Đấy không phải là quán đỉnh mà đích thân Guru Rinpoche dùng một chiếc bình để ban cho họ; thay vào đó; khi họ khởi lên niềm tin mãnh liệt với Guru Rinpoche, họ thọ nhận những trải nghiệm về thân – các dấu hiệu cho thấy Ngài đang gia trì họ bằng quán đỉnh con đường.
Họ đạt được quán đỉnh giác tính trong tâm. Sự tập trung thiền định của họ ngày càng mạnh mẽ và trí tuệ của họ liên tục sâu sắc hơn. Nhờ gia trì vĩ đại và tự sinh của Guru Rinpoche, dòng tâm họ được chín muồi. Khi ấy, bảo vệ chúng sinh khác và xoa dịu khổ đau trở nên tự nhiên và không nỗ lực.
Điều này cho thấy niềm tin thực sự quan trọng đến đâu. Nếu bạn có niềm tin đặc biệt sùng kính với Đức Phật và đạo sư, thật dễ dàng điều phục phiền não của bản thân và cùng lúc, giúp đỡ những kẻ cần. Nếu những người đau ốm hay khổ đau yêu cầu bạn gia trì, miễn là bạn có niềm tin với Guru Rinpoche hay chư Phật và Bồ Tát, bạn có thể cầu nguyện: “Chư Phật và Bồ Tát, xin hãy gia trì dòng tâm họ!”. Như thế, họ sẽ tự nhiên được lợi lạc.
Bản thân được chuyển hóa,
Họ cũng sẽ thay đổi trải nghiệm của chúng sinh khác
Và như thế, tiến hành công việc của Phật quả.
Trong họ, mọi phẩm tính sẽ được hoàn thiện.
Khi tâm họ được chuyển hóa, họ sau đó có thể chuyển hóa tâm của kẻ khác. Đây là một nguyên tắc tự nhiên. Ví dụ, bởi tôi có niềm tin phi phàm, đặc biệt với Guru Rinpoche, sau đó, khi tâm tôi được chuyển hóa, những giáo lý mà tôi ban cũng sẽ làm lợi lạc những vị nghe được. Trái lại, nếu tôi kể một câu chuyện Phật giáo mà tôi đơn giản học vẹt, trong khi trái tim chẳng hề bị lay chuyển, thì khi tôi chia sẻ, người nghe không thể xúc động sâu sắc. Nó sẽ vào tai này ra tai kia, chẳng để lại dấu vết nào trong tâm họ. Nhưng nếu tôi phát khởi niềm tin lớn lao từ những câu chuyện truyền cảm hứng của chư Phật và Bồ Tát, chia sẻ chúng cho những người tập hợp lại với tâm hoan hỷ thì giống như tôi được lợi lạc, những vị có mặt cũng sẽ được làm phong phú tâm trí.
Tôi thường nói với những vị thầy Giáo Pháp: Khi thuyết giảng, trước tiên bản thân bạn phải bị lay động. Lợi lạc cho chúng sinh khác sẽ hoàn toàn khác biệt nếu bạn trao truyền nó khi đã có trải nghiệm chân chính. Nói cách khác, việc bạn nói từ trái tim hay đơn thuần là lời nói suông – kết quả sẽ hoàn toàn khác. Một số đạo sư có thể không ăn nói rõ ràng lắm, nhưng chư vị trao đổi trực tiếp với đệ tử từ trạng thái bên trong của mình. Nhờ đó, điều mà chư vị dạy sẽ luôn luôn làm lợi lạc tâm kẻ khác.
Vì vậy, mọi người phải ghi nhớ chắc chắn nguyên tắc này: “Khi tâm mình được chuyển hóa, tâm kẻ khác cũng được chuyển hóa và các hoạt động được thành tựu”. Ví dụ, nếu bạn muốn cầu nguyện đến Guru Rinpoche để giúp những vị bị ảnh hưởng bởi sóng thần hay động đất, cầu nguyện để xua tan khổ đau cho họ, điều kiện tiên quyết là bản thân bạn phải trải qua sự chuyển hóa trong thân và tâm trong sự cầu nguyện. Nếu bạn có thể làm vậy, sự cầu nguyện của bạn sẽ làm lợi lạc chúng sinh khác. Dĩ nhiên, điều này không dễ, nhưng điểm này cực kỳ quan trọng.
Một số người tuyên bố rằng, “Mọi sự trên đời chỉ là ảo ảnh và những lời cầu nguyện Phật giáo chỉ là nghi thức mà thôi”. Thực sự không phải vậy. Gia trì có thể thực sự được cảm nhận, bởi khi bản thân bạn đã có được điều gì đó từ Giáo Pháp, sau đó, áp dụng để giúp đỡ chúng sinh khác, nó chắc chắn sẽ làm lợi lạc họ. Ngược lại, nếu bạn chưa có được gì, thì bất kể bạn cố gắng chia sẻ nhiều bao nhiêu với kẻ khác, điều đó có thể vô nghĩa. Vì vậy, khi chúng ta thảo luận giáo lý Phật với người khác trong đời sống hằng ngày, tốt nhất là lựa chọn các giáo lý hay thực hành mà bản thân đã được lợi lạc nhất; trong trường hợp đó, chúng chắc chắn sẽ giúp đỡ kẻ khác.
Guru Rinpoche Đã Tiên Đoán Rằng Tâm Tử Của Ngài Sẽ Gặp Được Lời Cầu Nguyện Này
Cầu mong tâm tử của Ta gặp được và tiết lộ
Công cụ oai hùng giúp chín muồi và giải thoát này
Trong trạng thái của giác ngộ vĩ đại, Pháp thân.
Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng, một thực hành với gia trì phi phàm, cực kỳ sâu xa. Cầu mong chỉ dẫn bí mật này, kho tàng tâm Ta, được tìm thấy bởi Chokyi Wangchuk bi mẫn và thông tuệ.
Về phương pháp này, Guru Rinpoche đã phát nguyện khi ấy rằng: “Cầu mong trong tương lai tâm tử của Ta gặp được nó”.
Đặc biệt, bởi Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng này cực kỳ sâu xa, Guru Rinpoche đã chôn giấu và tiên đoán rằng Chokyi Wangchuk, vị đạo sư sở hữu lòng đại bi và trí tuệ, sẽ phát lộ nó. Và thực sự, Terton vĩ đại Chokyi Wangchuk sau đó đã phát lộ Terma này và truyền bá nó rộng rãi trong cõi người.
Khenpo Sodargye
Việt dịch: Pema Jyana
Nguồn: Triệu Thỉnh Guru Rinpoche – Một Luận Giải Thực Tiễn Về Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng (Bài Giảng Thứ Tư)