Bất kỳ tri giác nào cũng có thể nối kết chúng ta với thực tại một cách tương hợp và trọn vẹn. Cái chúng ta thấy không cần phải đẹp một cách đặc thù; chúng ta có thề hân thưởng mọi cái hiện hữu. Có một nguyên lý phép lạ nào đó trong mọi sự, một phẩm tính sống động nào đó. Có cái gì sống động, có cái gì đích thực, đang xảy ra trong mọi sự.
Trong xã hội thế kỷ hai mươi, sự thưởng thức tính giản dị hầu như đã biến mất. Từ Luân Đôn đến Tokyo, có những vấn đề cố gắng làm sao tạo ra lạc thú và tiện nghi với tốc độ nhanh. Thế giới được máy móc hóa đến mức độ bạn thậm chí khỏi cần suy nghĩ. Bạn chỉ bấm một nút và một máy điện toán cho bạn sự trả lời. Bạn khỏi phải học đếm. Tính hững hờ đã trở thành phổ biến mạnh mẽ, vì người ta nghĩ theo hiệu năng hơn là thưởng thức. Tại sao phải thắc mắc với cái cà vạt, nếu mục tiêu của việc mặc áo quần chỉ để che thân? Nếu lý do ăn chỉ là làm đầy bao tử và cung cấp chất bổ, tại sao phải lo tìm kiếm thịt tốt nhất, bơ tốt nhất, rau quả tốt nhất?
Nhưng thực tại của thế giới là cái gì đó hơn cái cách sống của thế giới trong thế kỷ hai mươi này. Lạc thú được làm cho rẻ hơn, niềm vui được giảm giá, hạnh phúc được điện toán hóa. Mục đích của tính chiến sĩ là kết nối trở lại với cái bây giờ của thực tại, để cho có thể tiến bộ mà không hủy hoại sự giản dị, không hủy hoại mối nối kết của bạn với mặt đất này. Trong chương vừa rồi, chúng ta đã bàn luận sự quan trọng của cái bây giờ như là một phương cách phối hợp minh triết của quá khứ và sự thách thức của hiện tại với nhau. Trong chương này, chúng ta sắp bàn luận làm sao để khám phá nền tảng của cái bây giờ. Để khám phá trở lại cái bây giờ, chúng ta phải nhìn lại, trở lại nơi nào từ đó chúng ta đến, trở lại trạng thái bổn nguyên. Trong trường hợp này, nhìn lại không phải nhìn lại trong thời gian, trở lại vài ngàn năm trước. Nó là nhìn trở lại vào tâm của chính bạn, trước khi lịch sử bắt đầu, trước khi suy nghĩ bắt đầu, trước khi tư tưởng xảy ra. Khi bạn tiếp xúc với cái nền tảng, cái mặt đất bổn nguyên này, bạn không còn mê lầm bởi những ảo tưởng của quá khứ hay tương lai. Bạn có thể ở yên liên tục trong cái bây giờ.
Trạng thái bổn nguyên này của con người có thể ví như môt tấm gương bổn nguyên, một tấm gương vũ trụ bổn nguyên. Chúng ta hiểu bổn nguyên là không có điều kiện, không bị điều kiện hóa, không bị tác động bởi bất kỳ điều kiện nào. Cái gì bổn nguyên không phải là một phản ứng hay chống lại bất kỳ hoàn cảnh nào. Mọi tính điều kiện đến từ tính không điều kiện, mọi tính nhân duyên đến, từ tính không nhân duyên. Sơ khởi cái gì được tạo ra phải đến từ cái không được tạo ra. Nếu cái gì bị điều kiện hóa, bị quy định, nó phải được tạo ra hoặc hình thành. Trong ngôn ngữ Anh, chúng ta nói đến việc hình thành những ý tướng hay kế hoạch, hay chúng ta nói, “Chúng ta cần hình thành tổ chức của chúng ta thế nào?” hay chúng ta nói về sự hình thành một đám mây. Ngược với cái trên, cái không điều kiện thì thoát khỏi được hình thành, thoát khỏi tạo Trạng thái không điều kiện này giống như một tấm gương nguyên sơ bởi vì, giống như một tấm gương, nó sẵn sàng phản chiếu mọi sự, từ cấp độ thô đến cấp độ tế, và nó vẫn y nguyên là nó. Tấm gương vũ trụ này thì rất bao la đến độ không có chu vi, và nó thoát khỏi bất kỳ thiên vị nào: giết hay cứu, hy vọng hay sợ hãi.
Cách thức nhìn lại và kinh nghiệm trạng thái cúa tấm gương vũ trụ chỉ đơn giản là thư giãn thì hoàn toàn khác với quan niệm mặt trời lặn là nằm xoài ra hay để mặc thời gian, tự tiêu khiển với một kỳ nghỉ thú vị. Thư giãn ở đây ám chỉ thư giãn tâm thức, buông bỏ lo âu và những ý niệm và sự thất vọng bình thường trói buộc chúng ta. Phương cách thư giãn, hay an nghỉ tâm thức trong cái hiện tại, là qua thực hành thiền định. Trong Phần Một, chúng ta đã bàn luận thực hành thiền định được nối kết với từ bỏ tâm nhỏ hẹp và lãnh địa cá nhân như thế nào. Trong thiền định bạn không “theo” hay “chống” kinh nghiệm của bạn. Đó là, bạn không tán dương những tư tưởng này và kết án những tư tưởng khác, mà bạn có một cách tiếp cận không thiên vị. Bạn để cho những sự vật là thế như chúng là, không phê phán, và trong cách đó bạn tự học cách hiện hữu, cách biểu hiện sự hiện hữu của bạn một cách trực tiếp, một cách vô niệm. Đó là trạng thái lý tưởng của thư giãn, nó cho phép bạn kinh nghiệm cái bây giờ của tấm gương vũ trụ. Thật ra, nó đã vốn là cái kinh nghiệm tấm gương vũ trụ.
Nếu bạn có thể thư giãn – thư giãn với một đám mây bằng cách nhìn nó, thư giãn với một giọt mưa và kinh nghiệm sự nguyên tuyền của nó – bạn có thể thấy tính không điều kiện của thực tại, nó vẫn nguyên vẹn rất đơn giản trong những sự vật như chúng vốn là, rất đơn giản. Khi bạn có thể nhìn vào những sự vật mà không tự nói, «Cái này cho mình hay chống lại mình”, “Tôi không hợp với cái này”, hay “Tôi không thể hợp với cái này”, bấy giờ bạn kinh nghiệm trạng thái hiện thể của tấm gương vũ trụ, trí huệ của tấm gương vũ trụ. Bạn thấy một con ruồi bay vo ve; bạn thấy một bông tuyết; bạn thấy những gợn nước; bạn thấy một con nhện. Bạn thấy mọi sự, nhưng bạn có thể thực sự thấy tất cả các sự vật ấy với tri giác đơn giản và bình thường nhưng đầy tán thưởng.
Bạn kinh nghiệm một cảnh giới bao la của những tri giác phơi mở. Có âm thanh không giới hạn, cảnh tượng không giới hạn, cảm giác không giới hạn, v.v… Lãnh vực của tri giác thì không có giới hạn, không giới hạn đến độ bản thân tri giác là bổn nguyên, không thể suy nghĩ, vượt khỏi tư tưởng. Có nhiều tri giác đến độ chúng vượt ngoài tưởng tượng. Có một con số bao la âm thanh. Có những âm thanh bạn chưa từng nghe. Có những cảnh tượng và màu sắc bạn chưa từng thấy. Có những cảm giác ban chưa từng kinh nghiệm trước đó. Có những trường tri giác vô tận.
Tri giác ở đây không phải là cái bạn tri giác mà là toàn thể hành động tri giác – sự tương tác giữa thức, những giác quan và những trường giác quan, hay những đối tượng của tri giác. Trong một số truyền thống tôn giáo, những tri giác giác quan được nhìn là có vấn đề, bởi vì chúng làm sanh ra những tham muốn thế gian. Tuy nhiên trong truyền thống Shambhala, nó là truyền thống thế tục hơn là một truyền thống tôn giáo, những tri giác giác quan được xem là thiêng liêng. Chúng được xem là tốt đẹp từ căn bản. Chúng là một năng khiếu tự nhiên, một khả năng tự nhiên mà con người có được. Chúng là một nguồn của trí huệ. Nếu bạn không thấy cảnh tượng, không nghe âm thanh, không nếm được vị, bạn không có cách gì để liên lạc với thế giới hiện tượng. Nhưng nhờ sự bao la phi thường của tri giác, bạn có những khả năng tương thông với chiều sâu của thế giới – thế giới của cảnh tượng, thế giới của âm thanh – thế giới lớn lao hơn.
Nói cách khác, những quan năng của bạn cho bạn lối vào những khả năng của tri giác sâu xa hơn. Vượt lên tri giác bình thường, có siêu âm thanh, siêu mùi hương và siêu cảm giác hiện diện trong hiện thể của bạn. Những cái này chỉ có thể được kinh nghiệm nhờ tu hành trong chiều sâu của thực hành thiền định. Sự thực hành làm sáng tỏ bất kỳ mê lầm hay che ám nào và làm hiển lộ sự chính xác, sắc nét và trí huệ của tri giác – cái bây giờ của thế giới của bạn. Trong thiền định, bạn kinh nghiệm sự rõ ràng của hơi thở vào và ra. Bạn cảm thấy hơi thở của bạn: nó rất tốt. Bạn thở ra; hơi thở tan biến: nó rất tinh nhạy và tốt đẹp, nó phi thường đến độ những lo toan bình thường trở nên thừa. Thế nên thực hành thiền định mở ra cái siêu nhiên, nếu tôi có thể dùng từ ấy. Bạn không thấy những con ma hay thần giao cách cảm, nhưng những tri giác của bạn trở nên siêu nhiên, đơn giản siêu tự nhiên.
Thông thường, chúng ta giới hạn ý nghĩa của những tri giác. Thức ăn làm chúng ta nhớ đến chuyện ăn; rác nhắc chúng ta làm sạch nhà; một khuôn mặt nhắc chúng ta tình thương hay ghét giận. Nói cách khác, chúng ta nhét cái chúng ta thấy vào một khung được sắp xếp theo tiện nghi và quen thuộc của chúng ta. Chúng ta đóng lại bất kỳ sự bao la hay khả năng sâu xa nào của tri giác của lòng ta bằng cách cố định sự diễn dịch riêng của chúng ta về thế giới của những hiện tượng. Nhưng có thể vượt lên khỏi sự diễn dịch cá nhân, để cho sự bao la đi vào lòng chúng ta qua trung gian tri giác. Chúng ta luôn luôn có một sự lựa chọn: chúng ta có thể giới hạn tri giác của chúng ta bằng cách đóng cửa với cái bao la, hay chúng ta có thể cho phép cái bao la chạm xúc với chúng ta.
Khi chúng ta kéo thần lực và chiều sâu của cái bao la xuống vào trong chỉ một tri giác, bấy giờ chúng ta đang khám phá và gọi cầu phép lạ. Phép lạ hay sự kỳ diệu không có nghĩa thần lực siêu nhiên ở trên thế giới hiện tượng, mà là sự khám phá trí huệ vốn sẵn có hay bổn nguyên trong thế giới như nó vốn là. Trí huệ chúng ta đang khám phá là trí huệ vô thủy, một cái gì thông tuệ tự nhiên, trí huệ của tấm gương vũ trụ. Ở Tây Tạng, phẩm tính phép lạ này của hiện hữu, hay trí huệ tự nhiên, được gọi là drala. Dra nghĩa là “kẻ thù” hay “đối thủ” và ra nghĩa là “ở trên”. Thế nên drala nghĩa đen là “ở trên đối thủ». Drala là trí huệ và thần lực không điều kiện của thế giới, chúng vượt khỏi mọi nhị nguyên, bởi thế drala thì ở trên mọi kẻ thù hay xung đột. Nó là trí huệ vượt khỏi hiếu chiến. Nó là trí huệ và thần lực tự hữu của tấm gương vũ trụ phản chiếu cả trong chúng ta và trong thế giới của tri giác chúng ta.
Một trong những điểm then chốt để khám phá nguyên lý drala là chứng biết rằng trí huệ của chúng ta với tư cách là một con người thì không tách lìa với thần lực của những sự vật như chúng là. Cả hai đều là sự phản chiếu của trí huệ không điều kiện của tấm gương vũ trụ. Thế nên không có sự chia cách hay nhị nguyên căn bản giữa bạn với thế giới của bạn. Khi bạn có thể kinh nghiệm hai cái ấy cùng nhau, chung nhau, hay có thể nói, là một, bấy giờ bạn có quyền sử dụng quan kiến và thần lực kinh khủng trong thế giới này – bạn thấy rằng chúng nối kết một cách nội tại với quan kiến của riêng bạn, hiện thể của riêng ban. Đó là sự khám phá phép lạ. Chúng ta không nói đến ở đây một phát giác trí thức; chúng ta đang nói đến kinh nghiệm cụ thể. Chúng ta đang nói về chúng ta tri giác thực sự thực tại như thế nào. Sự khám phá drala có thể đến như một mùi hương phi thường, một âm thanh lạ kỳ, một màu sắc sống động, một vị khác thường. Bất kỳ tri giác nào cũng có thể nối kết chúng ta với hiện tại một cách thích đáng và trọn vẹn. Cái chúng ta thấy không cần phải đẹp một cách đặc thù; chúng ta có thể hân thưởng mọi cái hiện hữu. Có một nguyên lý phép lạ nào đó trong mọi sự, một phẩm tính sông động nào đó. Có cái gì sống động, có cái gì đích thực đang xảy ra trong mọi sự.
Khi chúng ta thấy những sự vật như chúng là, chúng có ý nghĩa với chúng ta: cách những chiếc lá chuyển động khi chúng bị gió thổi đi, cách những tảng đá thấm ướt khi có những bông tuyết rơi trên chúng. Chúng ta thấy những sự vật phô diễn sự hài hòa và sự hỗn độn của chúng đồng thời như thế nào. Thế nên chúng ta không bao giờ bị giới hạn chỉ bởi cái đẹp, mà chúng ta hân thưởng mọi mặt của thực tại một cách thích đáng.
Nhiều câu chuyện và bài thơ được viết cho trẻ em diễn tả kinh nghiệm cầu khẩn phép lạ của một tri giác đơn giản. Một ví dụ là truyệsn “Chờ đợi ở cửa sổ” từ Bây Giờ Chúng Ta Là Sáu của A. A. Milne. Nó là một bài thơ nói về việc ở bên cửa sổ vài giờ trong một ngày mưa, chờ đợi những giọt mưa rơi xuống và tạo ra những hình dạng trên cửa kính. Đọc bài thơ này, bạn thấy cửa sổ, ngày mưa, và đứa trẻ với khuôn mặt dán vào cửa kính chờ những giọt mưa. Và bạn cảm thấy cảm thức thích thú và ngạc nhiên của đứa trẻ. Những bài thơ của Robert Louis Stevenson trong Những Vần Thơ về Một Vườn của Trẻ Em có một phẩm chất tương tự trong việc sử dụng kinh nghiệm bình thường để tiếp xúc với chiều sâu của tri giác. Sự bao la nền tảng của thế giới không thể được diễn tả trực tiếp bằng lời, nhưng trong văn chương trẻ em, rất thường có thể diễn tả sự bao la ấy trong tính đơn giản.
Hoàng Tử Bé của Antoine de Saint Exupéry là một thí dụ thú vị khác của văn chương gợi lên ý nghĩa của phép lạ bình thường, nguyên sơ. Trong câu chuyên này, có đoạn hoàng tử bé gặp một con cáo. Hoàng tử rất đơn độc và muốn con cáo chơi vớì mình, nhưng con cáo nói rằng nó không thể chơi trừ phi nó được thuần hóa. Hoàng tử bé hỏi từ “thuần hóa” có nghĩa là gì. Con cáo giải thích nó có nghĩa là “thiết lập những quan hệ” theo một cách mà con cáo trở thành độc nhất với hoàng tử bé, và hoàng tử bé độc nhất với con cáo. Về sau, con cáo đã được thuần hóa và hoàng tử phải từ giã nó, con cáo cũng nói cho hoàng tử điều nó gọi là “sự bí mật, một bí mật rất giản dị của tôi”, đó là “chỉ bằng trái tim mà người ta có thể thấy đúng; điều là cốt yếu tinh túy thì không thể thấy bằng mắt”.
Saint Exupéry có một ngữ vựng khác ở đây để diễn tả sự khám phá của phép lạ hay drala, nhưng kinh nghiệm thì như nhau một cách căn bản. Thực vậy, khám phá drala là thiết lập những quan hệ với thế giới của bạn, để cho mỗi tri giác trở thành độc nhất. Đó là thấy với tấm lòng, để cho cái không thể thấy bằng mắt trở nên có thể thấy được như là phép lạ sống động của thực tại. Có thể có hàng ngàn hay hàng triệu tri giác, nhưng chúng vẫn là một. Như hàng triệu giọt nước chúng vẫn giống nhau. Và thấy một giọt nước thì có thể thấy tất cả nước.
Drala hầu như có thể được gọi là một thực thể. Nó không hoàn toàn ở cấp độ chư thiên, mà nó là một sức mạnh cá nhân đang hiện hữu. Bởi thế, chúng ta không chỉ nói đến nguyên lý drala, mà chúng ta nói đến gặp gỡ “những drala” Những drala là những yếu tố của thực tại – nước của nước, lửa của lửa, đất của đất – cái gì kết nối bạn với phẩm tính nguyên sơ của thực tại, cái gì nhắc bạn về chiều sâu của tri giác. Có những drala trong những tảng đá, những cây, những núi, một bông tuyết, hay một mảnh rác. Bất kỳ cái gì ở đó, bất kỳ cái gì tình cờ bạn thấy trong đời sống, đây là những drala của thực tại. Khi bạn có sự nối kết này với phẩm tính nguyên sơ của thế giới, bạn đang gặp những drala ngay tại chỗ; ở điểm đó, bạn đang gặp gỡ chúng. Đó là hiện hữu căn bản mà tất cả mọi người đều có khả năng về nó. Chúng ta luôn luôn có những khả năng khám phá phép lạ. Dù ở thời kỳ trung cổ hay thế kỷ hai mươi, khả năng của phép lạ luôn luôn có ở đó.
Một thí dụ riêng biệt về sự gặp gỡ phép lạ trong kinh nghiệm của tôi, và cắm hoa. Bất cứ cành nào bạn tìm thấy, không có cành nào bị bỏ đi vì xấu. Chúng luôn luôn được bao gồm. Bạn phải học thấy cái chỗ của chúng trong hoàn cảnh, đó là điểm then chốt. Thế nên bạn không bao giờ bỏ đi cành nào. Đó là nối kết với những phép lạ của thực tại như thế nào.
Năng lực drala thì giống như mặt trời. Nếu bạn nhìn vào bầu trời, mặt trời có ở đó. Nhìn vào nó bạn không tạo ra một mặt trời mới. Bạn có thể cảm thấy rằng bạn đã tạo ra mặt trời của ngày hôm nay bằng cách nhìn vào nó. Mắt bạn bắt đầu liên hệ những với ánh sáng mặt trời. Theo cùng cách như vậy nguyên lý drala luôn luôn ở đó. Bạn có chú tâm tương thông với nó hay không, sức mạnh phép lạ và trí huệ thâu suốt thực tại luôn luôn ở đó. Trí huệ này ở trong tấm gương vũ trụ. Bằng cách thư giãn tâm thức, bạn có thể nối kết trở lại với nền tảng bổn nguyên, nguyên thủy, nó trọn vẹn thanh tịnh và đơn giản. Từ đó, qua trung gian của những tri giác của các bạn, bạn có thể khám phá phép lạ hay drala. Bạn thực sự có thể nối kết trí huệ nội tại vỗn sẵn của bạn với một trí huệ lớn lao hơn hay một quan kiến vượt khỏi bạn.
Bạn có thể nghĩ rằng có cái gì phi thường sẽ xảy ra cho bạn khi bạn khám phá ra phép lạ hay sự kỳ diệu. Có cái gì siêu thường xảy ra. Bạn chỉ đơn giản tìm thấy mình trong cảnh giới của thực tại tối hậu, thực tại trọn vẹn và suốt khắp.
Đức Chogyam Trungpa
Nguồn: Xã hội giác ngộ – Con đường thiêng liêng của người chiến sĩ
Nhà xuất bản Thiện Tri Thức