Bài ca chiến thắng - Diệu Âm của trống trời - Ripa Việt Nam

Bài ca chiến thắng – Diệu Âm của trống trời

Home Tham khảo

Tầm Quan Trọng Của Bản Văn

Các hoạt động Giáo Pháp trong cuộc đời của Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche có thể được chia thành sáu giai đoạn chính. Từng giai đoạn được đánh dấu bằng một bản văn chỉ dẫn cốt tủy quan trọng. Sáu bản văn này lần lượt là Lời Khuyên Tuôn Trào Lúc Sớm Mai, Giọt Lời Khuyên Chân Thành, Giọt Cam Lồ Lời Khuyên, Bài Ca Chiến Thắng, Giáo Lý Bốn Thừa và Giáo Lý Trong Lúc Thâu Nhiếp Mọi Xuất Hiện – Tồn Tại. Ngoài những bản văn này, cũng có các giáo lý được ban ngay trước khi Ngài viên tịch.

Những bản văn này không phải là những bài luận thông thường được rút ra từ vài năm nghiên cứu học thuật, mà chúng là tinh túy trí tuệ của Ngài, có được từ một đời nghiên cứu, quán chiếu và thực hành. Chứng ngộ mà Ngài đạt được, tiểu sử của Ngài và công đức phi phàm của Ngài đã cho thấy Ngài là một vị Thánh vĩ đại và một đạo sư chứng ngộ trong từng đời trải dài từ thời của Phật Thích Ca Mâu Ni cho đến thời Đạo Sư Liên Hoa Sinh. Ngài không chỉ tích lũy thiện nghiệp dồi dào trong những đời trước, mà trong đời hiện tại, Ngài đã dành hơn sáu mươi năm tập trung vào nghiên cứu, quán chiếu và thực hành giáo lý của Đức Phật, điều mà Ngài bắt đầu làm từ khoảng năm tuổi và tiếp tục cho đến gần bảy mươi. Ngài đã dành cả cuộc đời cho tất cả hữu tình chúng sinh và Phật giáo; từ ngữ và giáo lý của Ngài, rút ra từ giếng sâu trí tuệ, thực sự vô cùng quý báu.

Bài Ca Chiến Thắng là một Doha (đạo ca) kim cương ứng khẩu, được Ngài hát lên trước khoảng năm nghìn tu sĩ vào ngày kỷ niệm chiến thắng cát tường, nhằm ngày 21 tháng 09 năm 1996, khi Ngài và các đệ tử đã xua tan tất cả cản trở bên ngoài, bên trong và bí mật.

Những vị có trí tuệ sẽ hoàn toàn hiểu mức độ siêu việt của Bài Ca Chiến Thắng sau khi nghiên cứu. Trong quá khứ, khi Ngài trao cho chúng tôi giáo lý, lúc đầu, chúng tôi không nhận ra giá trị lớn lao. Tuy nhiên, sau khi liên tục quán chiếu về Giáo Pháp và khi thời gian trôi qua, cùng với việc được tiếp xúc với các giáo lý tâm linh khác nhau, chúng tôi nhận ra rằng Ngài thực sự là con người phi phàm nhất.

Thực tế là ngay cả khi Đức Phật đã dạy tám vạn bốn nghìn giáo lý, rất hiếm người có thể làm chủ toàn bộ trong chỉ một đời. Tuy nhiên, bởi Kyabje Rinpoche đã tóm tắt những giáo lý này thành chỉ dẫn cốt tủy tuyệt vời dựa trên sự hành trì và chứng ngộ của Ngài, chúng ta cần trân trọng nó và cố gắng lĩnh hội ý nghĩa sâu xa.

Về mặt lý thuyết, hành giả Giáo Pháp cần nghiên cứu cả Kinh điển và Mật điển một cách mở rộng, chẳng hạn Năm Đại Luận Đại Thừa. Nhưng cuộc đời ngắn ngủi và thật khó để biết chúng ta còn sống thêm được bao lâu. Nhiều thay đổi có thể xảy ra trong thoáng chốc và chẳng có gì chắc chắn. Vì thế, nghiên cứu một bản văn ngắn, thứ chứa đựng những chỉ dẫn cốt tủy vĩ đại, thì giá trị lớn lao với tất cả hành giả; nếu không, họ có thể không được chuẩn bị đầy đủ khi phải từ giã thế gian này.

Ngài đã yêu cầu tất cả đệ tử truyền thừa giảng dạy hay tụng Bài Ca Chiến Thắng một lần trước khi giảng dạy hay nghiên cứu một bản văn Giáo Pháp, để bất cứ chướng ngại nào có thể xảy ra trong quá trình đều có thể được tiêu trừ. Tương tự, nếu ai đó muốn đi theo Giáo Pháp, trước tiên tụng bản văn này một lần sẽ khiến ước nguyện của họ trở thành hiện thực và bảo vệ họ khỏi việc gặp phải các chướng ngại. Ngoài ra, bất kỳ chướng ngại nào có thể xuất hiện trong lúc nghiên cứu hay thực hành Giáo Pháp có thể được chuyển hóa thành thuận duyên chỉ bằng cách đọc bản văn này hay mang theo cùng đi đến mọi nơi. Vì thế, Ngài nhiều lần yêu cầu rằng bất kỳ ai quy y hay nương tựa Ngài cần thuộc lòng Bài Ca Chiến Thắng và nắm bắt ý nghĩa sâu xa của nó.

Bối Cảnh Của Bản Văn

Vào tháng 09 năm 1995, Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche dự định viếng thăm Đài Loan, sau đó, đến Nepal để tiến hành một khóa nhập thất về Phật Vô Lượng Thọ trong hang động của Đức Liên Hoa Sinh. Nhưng sau khi đến Thành Đô, có một số vấn đề liên quan đến quá trình đăng ký hộ chiếu. Ngài cũng trải qua sự suy giảm về sức khỏe và bệnh viện ở Thành Đô không thể chẩn đoán nguyên nhân của căn bệnh. Kết quả là, Ngài ở lại Thành Đô hơn năm tháng, duy trì trong trạng thái định và ngoại trừ lúc dùng bữa, Ngài không thốt ra một từ nào.

Sau đấy, đêm nọ, Ngài có giấc mơ mà trong đó, Tôn giả Atisha, Tôn giả Dromtonpa[1], Jamgon Mipham và Lama Lodro[2], đều xuất hiện trước Ngài. Tôn giả Atisha lặng lẽ từ ái – yêu thương nhìn Ngài. Tôn giả Dromtonpa bảo rằng, “Chúng ta đều đến đây bởi Tôn giả Atisha rất quan tâm đến con. Những cơn sóng lớn trào dâng này của đại dương sẽ chấm dứt vào ngày 10 tháng 03, con có hiểu những ám chỉ không?”. (Tôn giả ám chỉ rằng khi ấy, Ngài sẽ hoàn toàn khỏi bệnh.) Sau đó, Tôn giả Atisha và Tôn giả Dromtonpa biến mất.

Jamgon Mipham trụ lại uy nghiêm, cầu nguyện mãnh liệt đến Đức Liên Hoa Sinh theo cách thức cực kỳ phẫn nộ, để xua tan tất cả cản trở bên ngoài, bên trong và bí mật và đánh bại mọi kiểu điều xấu khác nhau hiển bày từ vô minh và phân biệt. Sau đấy, Ngài biến thành ánh sáng và biến mất.

Lama Lodro đã ban lời khuyên nhân từ: “Con cần trụ trong trạng thái chói ngời của Đại Viên Mãn, sự hợp nhất vĩ đại của hình tướng và tính Không. Từ sự tập trung sâu xa này, con cần làm lợi hữu tình chúng sinh bằng Bồ đề tâm, hoán đổi khổ đau của chúng sinh khác với hạnh phúc của bản thân con. Sau đó, tất cả nghịch duyên sẽ tan biến vào Không”. Ngài cũng ban một số giáo lý khác, rồi cũng tan hòa vào tịnh quang.

Sau giấc mơ này, Kyabje Rinpoche bắt đầu dần dần bình phục và đúng như Tôn giả Dromtonpa tiên đoán, Ngài đã hoàn toàn bình phục vào ngày 10 tháng 03. Khi trở về Larung Gar, tất cả đệ tử của Ngài đã trao cho Ngài lễ cung nghênh trang nghiêm nhất. Ngài đã ứng khẩu hát lên Bài Ca Chiến Thắng giữa tứ chúng đệ tử. Chẳng thể nào miêu tả hạnh phúc của mọi người khi ấy. Ngài cũng đặt tên cho Học viện của đệ tử Hán là Chiến Thắng Phục Ma Tự, chỉ ra chiến thắng vĩ đại này.

Bài Ca Chiến Thắng: Diệu Âm Của Trống Trời

1. Ý Nghĩa Của Tựa Đề

Trong tựa đề, Chiến Thắng nghĩa là hành giả có khả năng tiêu trừ tất cả chướng ngại bên ngoài, bên trong và bí mật và đạt được chiến thắng hoàn toàn nhờ gia trì của đạo sư và Tam Bảo. Bài Ca nhắc đến một Doha, một bài hát được ứng khẩu soạn ra bởi một bậc chứng ngộ với một cấp độ chứng ngộ nhất định. Trống Trời là trống lớn trong cõi trời Tam Thập Tam, sự xuất hiện của nó là nhờ công đức lớn của chúng sinh cõi trời.

Bài Ca Chiến Thắng này được miêu tả bằng ẩn dụ Diệu Âm Của Trống Trời bởi trống này có âm thanh tự nhiên, điều nghĩa là “Này tất cả chúng sinh cõi trời, đừng sợ hãi!”. Bởi khi chúng sinh cõi trời giao chiến với A Tu La, với sự giúp đỡ tuyệt vời của Trống Trời, họ có khả năng đánh bại A Tu La và giành chiến thắng. Do đó, tựa đề gợi ra sự tương đồng giữa Bài Ca Chiến Thắng và Diệu Âm Của Trống Trời. Bản văn ngắn gọn này chứa đựng tinh túy của tất cả giáo lý Kinh thừa và Mật thừa, cũng như chỉ dẫn cốt tủy vô cùng sâu xa từ cuộc đời hành trì của Ngài.

2. Bốn Khía Cạnh Chính Yếu Của Con Đường

Trong Ba Khía Cạnh Căn Bản Của Con Đường, Lama Tsongkhapa thảo luận ba khía cạnh chính, tức xả ly, Bồ đề tâm và trí tuệ bất nhị. Tuy nhiên, trong bản văn này, Kyabje Rinpoche tóm tắt toàn bộ con đường giác ngộ thành bốn khía cạnh chính, bao gồm khía cạnh bổ sung là tính cách thiện lành. Trí tuệ bất nhị cũng có thể được giải thích trong cả con đường Đại thừa và Kim Cương thừa. Trong Bài Ca Chiến Thắng, trí tuệ bất nhị được miêu tả từ quan điểm của Đại Viên Mãn, tức Dzogchen, cấp độ chứng ngộ cao nhất trong thực hành Kim Cương thừa, dựa trên tri kiến tính Không trong giáo lý Đại thừa.

Chứng ngộ Đại Viên Mãn là sự giác ngộ đáng khao khát nhất, xứng đáng được hành giả tâm linh mong cầu. Điều kiện tiên quyết cho sự giác ngộ như vậy là gì? Đó là Bồ đề tâm. Không có Bồ đề tâm, như Ngài Tịch Thiên nói trong Nhập Bồ Tát Hạnh, chẳng có cách nào để đạt được giác ngộ viên mãn, bất kể người ta có sở hữu công đức thù thắng đến đâu. Vậy làm sao Bồ đề tâm có thể khởi lên trong tâm? Để điều này xảy ra, người ta trước tiên cần sở hữu tâm xả ly, điều lại đến từ một tính cách thiện lành. Vì thế, trình tự thực hành cần phải là: một tính cách thiện lành để là người tốt, tâm xả ly để từ bỏ mọi bám chấp thế gian, nguyện Bồ đề tâm để dẫn dắt tất cả chúng sinh thành tựu Phật quả và cuối cùng, thực hành Dzogchen để đạt giác ngộ viên mãn trong một đời. Đây là bốn khía cạnh chính của con đường, điều được tóm tắt trong Bài Ca Chiến Thắng này.

B. Kính Lễ

Hiện thân trí tất cả Phật, đấng bảo hộ hữu tình,

Đức Văn Thù, vị xuất hiện là cậu bé trẻ trung,

Nguyện Ngài trụ mãi trong tim, trên nhụy sen tám cánh,

Gia trì từ ngữ con làm lợi tất cả hữu tình.

1. Lòng Sùng Mộ Chân Thành Với Đức Văn Thù

Trong đoạn kệ này, Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche đang nói rằng chư Phật của mọi thế giới khắp mười phương là những đấng bảo hộ của tất cả hữu tình chúng sinh và rằng hiện thân trí tuệ của tất cả chư Phật mười phương là Đức Văn Thù, vị xuất hiện là cậu bé trẻ trung để làm lợi lạc tất cả hữu tình chúng sinh. Vì thế, chúng ta cầu nguyện rằng Đức Văn Thù sẽ tràn ngập bông sen tám cánh trong tim chúng ta bằng ánh mặt trời rực rỡ, chan chứa gia trì của Ngài và sẽ trụ mãi mãi trong nhụy bông sen tim chúng ta. Và chúng ta cầu nguyện rằng, bằng sức mạnh từ lòng bi của Đức Văn Thù, từ ngữ của chúng ta có thể phổ quát làm lợi lạc tất cả hữu tình chúng sinh trên thế gian này.

Ở đây, một phép tương đồng được sử dụng giữa bông sen tám cánh và tim, điều có nhiều ý nghĩa bên ngoài, bên trong và bí mật trong Kim Cương thừa và sẽ không được thảo luận chi tiết vào lúc này.

Đây là một lời kính lễ đến Đức Văn Thù. Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche xem Văn Thù là vị Tôn chính yếu và sau khi trực tiếp diện kiến Đức Văn Thù tại Ngũ Đài Sơn[3], bất cứ khi nào Ngài soạn một bộ luận, trước tiên, Ngài luôn luôn kính lễ Đức Văn Thù. Điều này minh chứng niềm tin phi phàm của Ngài với Đức Văn Thù.

Ngài vốn luôn có kết nối thân thiết với Đức Văn Thù từ thời thơ ấu. Theo tiểu sử, Ngài đã tụng to Chân ngôn Văn Thù, Oṃ Arapacana Dhīḥ, khi là một bé sơ sinh, ngay sau khi chào đời. Lên sáu tuổi, Ngài tìm được một bản sao Văn Thù Sư Tư Ngữ, giấu trong một chồng đá, và nhận ra một đoạn kệ ở cuối, điều nói rằng có một người đàn ông ở Ấn Độ đã chín mươi chín tuổi. Sau chỉ một ngày thực hành, ông ấy đã đạt giác ngộ khi Đức Văn Thù xuất hiện trước ông.

Ngài nghĩ rằng, “Nếu một người già vậy có thể diện kiến Đức Văn Thù sau chỉ một ngày thực hành, tôi cần có khả năng thực hành và đạt giác ngộ mà không có bất kỳ vấn đề gì bởi tôi đang bắt đầu khi còn rất nhỏ”. Ngài rất vui mừng và đã thực hành hoàn toàn tập trung trong vài ngày. Kết quả là, Ngài trải qua nhiều dấu hiệu thành tựu và một cách tự nhiên, làm chủ tất cả kinh văn và luận giải trong Kinh điển và Mật điển.

Ngài thường nhấn mạnh rằng hành giả Giáo Pháp cần thường xuyên tụng Chân ngôn của Đức Văn Thù và cầu nguyện đến Đức Văn Thù, bởi so với những vị Phật khác, sức mạnh của gia trì từ Đức Văn Thù khá đặc biệt. Là chúng sinh bình phàm, chúng ta không thể xác định xem liệu gia trì của Phật Thích Ca Mâu Ni hay Bồ Tát Văn Thù mạnh hơn, nhưng cũng có thể đánh giá hợp lý theo các Kinh điển liên quan, bởi điều này được giải thích trong các Kinh điển liên quan.

Về bề ngoài, Văn Thù xuất hiện chỉ là một Bồ Tát. Nhưng dựa trên điều được nhắc đến trong các Kinh điển, Ngài thực sự đã thành tựu Phật quả từ rất lâu về trước và Ngài là hiện thân cho toàn bộ trí tuệ của chư Phật và Bồ Tát từ tất cả thế giới khắp mười phương và được xem là cha của tất cả chư Phật. Ngài dẫn dắt vô số hữu tình chúng sinh thành tựu Phật quả bằng cách thôi thúc họ phát Bồ đề tâm. Do đó, sức mạnh của gia trì từ Ngài thật diệu kỳ chẳng thể nghĩ bàn.

Mọi người có thể được lợi lạc từ gia trì của Đức Văn Thù. Điểm then chốt nằm ở việc liệu họ có niềm tin chân chính với Ngài hay không. Lần nọ khi tôi viếng thăm Ngũ Đài Sơn, tôi liên tục ngập tràn hy vọng rằng tôi sẽ diện kiến Đức Văn Thù và cuối cùng, mặc dù tôi không thể diện kiến, tôi khá chắc chắn rằng tôi đã thọ nhận chút gia trì, điều cho phép tôi học thuộc và tụng đầy đủ một số bản văn Giáo Pháp nhất định sau khi chỉ đọc chúng vài lần. Vì vậy, tôi thường nói rằng những người khác nhau có mức độ niềm tin khác nhau; nhưng miễn là họ được Đức Văn Thù gia trì, tất cả kinh văn và luận giải trong Kinh thừa và Mật thừa sẽ hiển bày trong tâm họ. Nếu họ liên tục cầu nguyện đến Đức Văn Thù, trí tuệ sẽ được ban cho họ đời này sang đời khác. Và cùng lúc, gia trì từ tất cả chư Phật có thể được hòa quyện và truyền vào dòng tâm của họ.

2. Một Câu Chuyện Tuyệt Vời Về Đức Văn Thù

Lần nọ, khi Đức Phật đang thuyết Pháp tại Linh Thứu, trong thành phố bên dưới ngọn núi có cô gái điếm tên là Tia Sáng Hoàng Kim Tuyệt Diệu. Cô ấy vô cùng xinh đẹp và cực kỳ quyến rũ. Nhưng diệu kỳ hơn là, toàn bộ thân cô tỏa ra ánh hoàng kim. Do đó, hoàng đế, thượng thư và tất cả nam giới đều bị cô ấy thu hút. Mặc dù cô chỉ là một gái điếm từ tầng lớp thấp kém, một đám đông lớn luôn bao quanh cô.

Ngày nọ, cô đi cùng với con trai của một thương nhân khi đi mua sắm ở chợ. Họ dự định vui chơi một chút tại khu giải trí. Dọc đường, Đức Văn Thù biến thành một chàng trai tuấn tú, bởi Ngài biết hoàn cảnh đã sẵn sàng để giác ngộ Tia Sáng Hoàng Kim Tuyệt Diệu. Toàn thân Ngài tỏa ra ánh sáng cực kỳ rực rỡ. Tia Sáng Hoàng Kim Tuyệt Diệu nhận thấy ánh sáng tỏa ra từ chàng trai vượt xa những tia sáng hoàng kim của cô và khi cô đứng trong ánh sáng của chàng trai, ánh sáng của cô phai nhạt. Cô trở nên ham muốn y phục của chàng và lập tức bỏ rơi con trai của thương nhân, nhảy khỏi cỗ xe mà họ đang đi và cố gắng quyến rũ chàng trai trẻ bằng vẻ đẹp của mình.

Khi ấy, Đức Văn Thù cho phép để Tỳ Sa Môn nói với Tia Sáng Hoàng Kim Tuyệt Diệu rằng, “Con không phải đố kỵ với chàng trai trẻ này, bởi Ngài là Bồ Tát Văn Thù, vị là tập hợp trí tuệ của tất cả chư Phật. Ngài có thể hoàn thành tất cả mong ước của con. Con cần gì?”. Tia Sáng Hoàng Kim Tuyệt Diệu nói rằng, “Con không cần gì ngoài y phục đẹp đẽ của Ngài”. Sau đó, Đức Văn Thù đáp rằng, “Nếu con có thể bước qua cánh cửa Bồ đề, Ta sẽ trao y phục của mình cho con”. Bởi cô ấy không hiểu điều đó nghĩa là gì, Đức Văn Thù bắt đầu trao cho cô ấy những chỉ dẫn chi tiết.

Tại Linh Thứu, Phật Thích Ca Mâu Ni cất lời tán thán, bảo rằng, “Lành thay!” trong lúc Văn Thù thuyết giảng, điều cực kỳ sâu xa và chấn động một tỷ vũ trụ. Đoàn tùy tùng hỏi Đức Phật tại sao Ngài lại nói vậy. Đức Phật đáp rằng, “Bồ Tát Văn Thù đang thuyết giảng Phật Pháp với lòng bi và trí tuệ để giác ngộ một cô gái điếm. Các con có thể đến đó nếu muốn nghe”. Nhiều đệ tử của Đức Phật đã đến nghe giáo lý của Văn Thù. Một số có được sự thanh tịnh của Pháp nhãn và thấy chân lý rõ ràng và thanh tịnh. Một số có được sự hiểu trọn vẹn về chân lý bất sinh; một số đạt được quả vị bất thối chuyển. Hàng vạn hữu tình chúng sinh được lợi lạc sau khi nghe giáo lý của Văn Thù.

Tia Sáng Hoàng Kim Tuyệt Diệu cũng phát triển một sự hiểu vững chắc về lý thuyết rằng chẳng gì thực sự tồn tại. Cô thực sự muốn đi theo Đức Văn Thù và sống cuộc đời như một vị Ni. Nhưng Đức Văn Thù bảo rằng con đường xả ly không nhất thiết phải là cạo đầu, mà thay vào đó, liên quan đến việc tinh tấn thực hành Phật Pháp và từ bỏ tư lợi vì lợi lạc của chúng sinh khác. Đức Văn Thù cũng khuyên cô trở về cỗ xe của con trai thương nhân và rời đi cùng cậu ấy.

Khi Tia Sáng Hoàng Kim Tuyệt Diệu và con trai của thương nhân trở về khu giải trí, họ đối diện với vô thường khi cô ấy qua đời trong vòng tay của chàng trai. Ban đầu, cậu ấy vô cùng buồn bã. Nhưng khi thân thể cô bắt đầu thối rữa, với máu và mủ chảy ra từ mắt, tai, lỗ mũi và miệng, và mùi hôi tỏa ra từ thân thể, con trai của thương nhân cực kỳ kinh hãi và chạy thẳng đến Linh Thứu để tìm kiếm sự bảo hộ từ Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Thích Ca Mâu Ni đã trao truyền Phật Pháp cho cậu ấy và cậu ấy hoàn toàn hiểu về chân lý bất sinh. Sau đó, Đức Phật tiên đoán rằng, “Bởi quán đỉnh của Bồ Tát Văn Thù khi khơi dậy động cơ trong cô ấy, Tia Sáng Hoàng Kim Tuyệt Diệu sẽ thành tựu Phật quả trong tương lai, hiệu là Trân Quý Quang Phật. Còn con trai của thương nhân sẽ trở thành Bồ Tát, đóng vai trò đại diện cho cô ấy, hiệu là Bồ Tát Thiện Quang”.

Con trai của thương nhân bối rối, “Tại sao đệ tử của Bồ Tát Văn Thù, Tia Sáng Hoàng Kim Tuyệt Diệu, lại thành tựu Phật quả? Còn con, đệ tử của Đức Phật, lại chỉ trở thành Bồ Tát”. Cậu ấy không thể hiểu nổi. Đức Phật đáp rằng, “Công đức của Bồ Tát Văn Thù thật chẳng thể nghĩ bàn. Ta cũng đã phát nguyện phát triển Bồ đề tâm lần đầu tiên trước Đức Văn Thù và vô số chư Phật quá khứ cũng vậy; vô số chư Phật hiện tại cũng vậy và vô số chư Phật tương lai cũng vậy”.

3. Động Cơ Đúng Đắn Để Thọ Giáo Lý

Ngài Jigme Phuntsok Rinpoche không soạn bản văn này để khỏi căn bệnh nặng, cũng không phải vì ham muốn trở nên giàu có hay bản thân được hạnh phúc. Thay vào đó, Ngài đã cầu nguyện gia trì của Đức Văn Thù để làm lợi tất cả chúng sinh, tạm thời hoặc rốt ráo, bằng từ ngữ và giáo lý của Ngài. Tương tự, chúng ta cũng cần kiểm tra động cơ của bản thân khi thọ giáo lý của Ngài. Một số người loay hoay mà chẳng có mục đích gì. Họ thấy người khác đi thọ giáo lý, vì thế, họ cũng đi theo mà chẳng có mục đích cụ thể nào. Trên thực tế, mục đích thọ nhận Giáo Pháp cần phải là làm lợi vô số hữu tình chúng sinh, chứ không phải chỉ vì lợi của bản thân. Mỗi hành giả cần điều chỉnh động cơ của bản thân tương ứng.

Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche
Khenpo Sodargye bình giảng
Việt dịch: Pema Jyana 

Comments are closed.

MẠNH MẼ ĐỂ GIÁC NGỘ - BE POWERFUL TO ENLIGHTEN
Thông tin liên quan đến dòng Truyền Thừa Ripa Vinh Quang đã được Đức Pháp Vương - Đại Khai Mật Tạng Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche ban phước. Cầu mong kho tàng giáo lý Terma thâm diệu của dòng Truyền thừa Ripa Vinh Quang sẽ làm an dịu mọi nổi thống khổ của chúng sinh mẹ tại đất nước Việt nam thân yêu.

Om Ah Hung Maha Sengha Mani Radzaa Sarwa Siddhi Phala Hung