Nhờ tìm hiểu Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng lần này, nhiều người các bạn giờ đã hiểu được những lợi lạc to lớn ở cấp độ bên ngoài, bên trong và bí mật. Từ nay trở về sau, bất cứ khi nào hoàn cảnh cho phép, tôi khuyến khích các bạn trì tụng thường xuyên – và nhất là, trì tụng với niềm tin.
Niềm tin, trí tuệ và lòng bi mẫn là điều cốt yếu trên con đường tâm linh. Với Phật tử chân chính, niềm tin là điều căn bản. Nếu chúng ta có niềm tin với đạo sư, Tam Bảo và Tứ Diệu Đế, thì mọi chuyện trong đời này và đời tương lai sẽ tự nhiên viên thành đúng như mong ước, không chút khó khăn nào. Trái lại, nếu thiếu niềm tin thì ngay cả khi về bề ngoài, chúng ta có vẻ là sở hữu trí tuệ, tài hùng biện, khả năng và kỹ năng, nền tảng bên dưới mọi phẩm tính này đã bị mất.
May mắn thay, niềm tin và lòng sùng mộ có thể được trưởng dưỡng nhờ thực hành Pháp. Một số người, bởi công đức từ các đời trước, sinh ra với niềm tin ổn định dành cho điều thiện và có rất ít ý nghĩ sai lầm hay lan man. Người khác, mặc dù cực kỳ thông tuệ, lại mắc kẹt trong những ý nghĩ phán xét, phân biệt bất tận, liên tục tìm lỗi – điều này sai, điều kia vô lý. Bất cứ thứ gì mà mắt thấy, tai nghe hay thân gặp phải, họ chỉ thấy méo mó và xấu xí. Tâm thế như vậy là chướng ngại lớn với thực hành. Vì thế, chúng ta cần rèn luyện trong nhận thức thanh tịnh – nhất là khi nghe về những phẩm tính của đạo sư và Tam Bảo, chúng ta cần khởi lên niềm hoan hỷ và cung kính. Đây là điều mà chư đạo sư truyền thừa của chúng ta nhấn mạnh nhiều lần.
NIỀM TIN VÀ SỰ NƯƠNG TỰA GURU RINPOCHE
Bây giờ, hãy tiếp tục thảo luận về những phẩm tính của Guru Rinpoche. Trong bài giảng trước, chúng ta đã tìm hiểu các đoạn kệ mà Mipham Rinpoche trích từ Hướng Dẫn Bí Mật Để Thành Tựu Đạo Sư. Bởi lần trước, chúng ta vẫn chưa hoàn thành phần giải thích, hãy tiếp tục từ chỗ chúng ta dừng hôm trước.
Và,
Lặp đi lặp lại hãy cầu nguyện như vậy đến Ta:
“Lúc vui hay buồn, may mắn hay nghịch cảnh,
Lúc chết, khi sống, trong thế giới này và tiếp theo,
Trong mọi hoàn cảnh cả hiện tại và rốt ráo,
Dù tốt hay xấu, Ngài là hy vọng của con, quy y thấu biết của con.
Với con, chẳng còn hy vọng nào khác.
Hỡi Đạo Sư Orgyen, Ngài biết rõ, con tin tưởng Ngài”.
Guru Rinpoche là hiện thân của tất cả chư Phật và Bồ Tát. Vì thế, trong đời sống hằng ngày – dù chúng ta được hạnh phúc hay khổ đau, hoàn cảnh cát tường hay bất tường và ngay cả trong vấn đề quan trọng về giải thoát khỏi sinh – tử và thành tựu cả lợi lạc tạm thời cũng như hạnh phúc rốt ráo – chúng ta trong mọi hoàn cảnh đều cần cầu khẩn Guru Rinpoche và nương tựa Ngài cho sự dẫn dắt và chứng ngộ. Mỗi người cần giữ sự xác quyết này trong tim: “Con giao phó tất cả cho Ngài; con hoàn toàn nương tựa Ngài. Ngoài Ngài, con chẳng có quy y nào khác”. Một số quy y rừng cây; một số thì con đường ngoại đạo; một số nương tựa người có địa vị và quyền lực; nhưng đây chỉ là hỗ trợ tạm thời. Quy y thù thắng và rốt ráo chính là Guru Rinpoche, vị hiện thân cho tất cả chư Phật và Bồ Tát khắp mười phương.
Chúng ta phải trưởng dưỡng niềm tin vô cùng chí thành và nhất tâm với Guru Rinpoche, quán chiếu rằng: “Guru Rinpoche, Ngài toàn tri; Ngài biết tất cả. Guru Rinpoche, Ngài hiểu con. Xin hãy ban gia trì cho con”. Nhờ quán chiếu và cầu nguyện như vậy, lặp đi lặp lại, chúng ta chắc chắn sẽ đạt được sự chứng ngộ của đạo sư.
Thực Hành Đạo Sư Du Già Của Khenpo Ngakchung
Lý do mà thực hành của nhiều người ngày nay không tiến bộ là bởi số lượng quá ít, chất lượng yếu ớt và sự tinh tấn còn thiếu. Sau khi tiến hành một trăm hay hai trăm nghìn, hoặc thậm chí một hay hai triệu biến Chân ngôn, họ cảm thấy đấy là một số lượng lớn – nhưng thế vẫn chưa đủ. Thực sự, chỉ riêng về thực hành Đạo Sư Du Già, theo truyền thống của Jigme Lingpa, người ta cần hoàn thành mười triệu biến Chân ngôn Đạo Sư Kim Cương. Khi nhiều người nghe vậy, họ choáng váng: “Cái gì cơ, mười triệu! Điều đấy là không thể!”.
Nhưng hãy xem cuộc đời của Khenpo Ngakchung: Đạo sư của Ngài – Đức Nyoshul Lungtok bảo Ngài, “Theo tiêu chuẩn thông thường, về sự cầu khẩn bên ngoài, người ta chỉ cần hoàn thành mười triệu biến Chân ngôn Đạo Sư Kim Cương, nhưng lần này, con phải hoàn thành ba mươi triệu!”. Khenpo Ngakchung không phàn nàn gì; Ngài đã hoàn thành yêu cầu, đảm bảo cả chất lượng và số lượng. Trong mười triệu biến Chân ngôn Đạo Sư Kim Cương đầu tiên, sau mỗi một trăm biến, Ngài luân phiên tụng một trong hai lời cầu nguyện – lời cầu nguyện triệu thỉnh thành tựu và lời cầu nguyện ban thành tựu – một lần. Trong hai mươi triệu biến sau, thay vào đó, Ngài tụng luân phiên hai lời cầu nguyện sau mỗi một nghìn biến, tụng một biến một trong hai lời cầu nguyện. Theo cách này, Ngài đã hoàn thành thực hành.
Tôi nhớ rằng trong giai đoạn trì tụng Chân ngôn đó, Khenpo Ngakchung từng viếng thăm đạo sư Nyoshul Lungtok và thấy vị này, như thường lệ, đi nhiễu quanh ẩn thất hai mươi lăm vòng sau bữa trưa. (Tương tự, Sư Bổn Hoán cũng có thói quen đi nhiễu quanh Phật đường sau bữa ăn.) Vì thế, Khenpo Ngakchung đã cùng đạo sư đi nhiễu. Đức Nyoshul Lungtok quấn một chiếc khăn da sói quanh eo, với những sợi dây buộc buông xuống như dây giày của người Tây Tạng. Mỗi khi đi vệ sinh, Đức Nyoshul Lungtok thường bảo rằng, “Hãy kéo đuôi Ta đi”, nhưng hôm ấy, Ngài không nói vậy. Vì thế, Khenpo Ngakchung hỏi rằng, “Con có cần kéo đuôi Ngài không?”. Đức Nyoshul Lungtok ngưng lại rồi bảo, “Ồ, Ta quên mất – được thôi, vậy thì kéo đi”. Sau đó, như thể điều gì đó chợt lóe lên trong Ngài, Ngài bổ sung, “Đấy là một cách diễn đạt theo thói quen không tốt của Ta; dẫu con bắt chước khi nói vậy, Ta cũng không thể trách mắng. Tuy nhiên, nói chung, đệ tử cần xem đạo sư là Pháp thân Phật và không nhìn Ngài đơn thuần là thân vật chất thông thường. Như Kinh Kim Cương có nói:
Kẻ nào thấy Ta bằng hình tướng,
Kẻ tìm kiếm Ta bằng âm thanh,
Dấu chân trên đường đã lầm lạc;
Bởi kẻ đó chẳng thể thấy Như Lai.
Đoạn kệ này từ Kinh điển cho thấy rằng đệ tử phải xem đạo sư là Pháp thân, chứ không phải là Báo thân hay Hóa thân; nếu không, những nhận thức bất tịnh như vậy sẽ trở thành chướng ngại đối với thành tựu thù thắng”.
Đức Nyoshul Lungtok đã yêu cầu Khenpo Ngakchung tụng ba mươi triệu biến Chân ngôn Đạo Sư Kim Cương, hoàn thành năm trăm nghìn thực hành sơ khởi cũng như thuộc lòng Lời Vàng Của Thầy Tôi. Thực sự, Khenpo Ngakchung là hóa hiện sống động của Tôn giả Vô Cấu Hữu; những linh kiến Ngài trải qua, suốt ngày và đêm, hoàn toàn là sự hiển bày tuyệt diệu của trí tuệ. Dẫu vậy, Ngài vẫn vô cùng khiêm nhường và thực hành đúng như được dạy, luôn luôn rèn luyện như một người bình thường. Theo cách này, Ngài đã dẫn dắt vô số chúng sinh.
Tuân Theo Trình Tự: Ưu Tiên Đạo Sư Du Già
Đôi khi, hành giả chúng ta ngày nay gặp những người tuyên bố rằng, “Tôi có sức mạnh siêu nhiên và chứng ngộ cao hơn – tôi không cần phải tiến hành thực hành sơ khởi hay trì tụng Chân ngôn”. Tôi thấy thật khó chấp nhận những tuyên bố như vậy. Hãy xem chư đạo sư vĩ đại trong quá khứ – dù từ Thiền Tông Trung Hoa hay Kim Cương thừa. Sự chứng ngộ càng lớn, chư vị càng nhấn mạnh hành vi thiện lành ở cấp độ quy ước: sống đúng theo luật nhân quả và tinh tấn tụng các Chân ngôn.
Do đó, thật tuyệt vời khi thấy rằng nhiều hành giả Giáo Pháp hiện đang tuân theo cách tiếp cận hệ thống hơn đối với thực hành. Đây là điều chúng ta cần hoan hỷ. Chúng ta cần tiến hành từng bước; đặc biệt, Đạo Sư Du Già vô cùng quan trọng.
Trong Lời Vàng Của Thầy Tôi, người ta được yêu cầu trì tụng Chân ngôn Đạo Sư Kim Cương mười triệu biến – một con số rất lớn với chúng ta, những kẻ sống cuộc sống hiện đại, đầy bận rộn. Tuy nhiên, nếu bạn muốn dòng tâm thực sự kết nối với đạo sư, bạn không thể nào cứ hô to: “Thầy ơi, con có kết nối với Ngài không? Con cảm thấy chúng ta kết nối mật thiết. Khi gặp Ngài, con cảm thấy Ngài vô cùng bi mẫn. Nhưng vài ngày trước, niềm tin của con có vẻ suy giảm”. “Kết nối” như vậy chỉ là ấn tượng quan niệm tạm thời; nó có thể đến từ những liên hệ thiện lành từ đời quá khứ, hoặc từ quan hệ đối địch trước kia, dẫn đến những cảm giác khác nhau khi gặp gỡ. Nhưng đây không phải điều quan trọng nhất.
Điều thực sự quan trọng là liên tục cầu nguyện trong thực hành thực sự, giao phó mọi thứ cho Guru Rinpoche và cho chư Phật cũng như Bồ Tát mười phương. Dù bạn vui hay buồn, dù cuộc đời bạn dài hay ngắn – hãy giao phó mọi sự cho Guru Rinpoche và cho chư Phật cũng như Bồ Tát, những vị biết rõ, dẫn dắt và sắp xếp tất cả. Như một số hành giả thường nói: “Thầy ơi, bất cứ điều gì Ngài nói, con sẽ làm theo!”. Đây là kiểu niềm tin mà chúng ta cần trưởng dưỡng. Nếu bạn có thể làm vậy, dòng tâm bạn dứt khoát sẽ kết nối với Giáo Pháp và với sự chứng ngộ của chư vị tôn quý.
Nói chung, mặc dù tôi không có mức độ chứng ngộ cao, nhiều năm nghiên cứu đã dạy tôi rằng trong thời suy đồi này, các thực hành sâu xa như Đạo Sư Du Già về Đạo Sư Liên Hoa Sinh xứng đáng được mọi người cam kết lâu dài. Nếu bạn có thể làm vậy, bất kể gặp phải chướng ngại hay cản trở nào, ý định thiện lành của bạn sẽ không bị gián đoạn. Nếu không, có chút trải nghiệm trong một hay hai ngày và đặc biệt tinh tấn trong thực hành – phát khởi kiểu niềm tin này không khó, nhưng duy trì nó về lâu dài và bền bỉ đến cùng thì không dễ đến vậy. Vì thế, tất cả chúng ta hãy liên tục cầu nguyện đến Guru Rinpoche bằng thực hành sâu xa này – Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng!
THỰC HÀNH THÀNH TỰU TẤT THẢY
Và,
Thành tựu Ta, con thành tựu tất cả Phật khác;
Thấy Ta, con thấy tất cả những vị Phật khác,
Bởi Ta là hiện thân của tất cả Thiện Thệ.
Nếu chúng ta có thể thành tựu Guru Rinpoche nhờ Đạo Sư Du Già thì chúng ta không cần theo đuổi một thực hành riêng cho từng vị Phật: bằng cách thành tựu Ngài, chúng ta thành tựu tất cả chư vị. Nếu chúng ta trực tiếp diện kiến Guru Rinpoche, chúng ta đã diện kiến tất cả chư vị tôn quý. Tại sao? Bởi Guru Rinpoche hiện thân cho tất cả Thiện Thệ.
Năm mười hai tuổi, Dudjom Lingpa có linh kiến trực tiếp về Guru Rinpoche. Từ đó trở đi, nhiều Terma và trải nghiệm hư huyễn tự nhiên hiển bày. Theo tiểu sử của Đấng Toàn Tri Longchenpa, lần nọ, Ngài thấy Guru Rinpoche và đã du hành đến cõi thanh tịnh của chư Không Hành Nữ; ở đó, Ngài thọ sự trao truyền truyền miệng về Khandro Nyingtik – Tâm Yếu Không Hành Nữ, trực tiếp từ chư Không Hành Nữ. Sau đó, hai mươi tám tuổi, trong lúc thuyết giảng, Ngài lại thấy Guru Rinpoche cùng với vị phối ngẫu Yeshe Tsogyal và thọ từ hai vị quán đỉnh Khandro Nyingtik. Guru Rinpoche đã ban cho Ngài danh hiệu Drime Ozer (Vô Cấu Quang) còn Khandro Yeshe Tsogyal trao cho Ngài danh hiệu Dorje Ziji Tsal (Kim Cương Uy Nghiêm Oai Hùng).
Dĩ nhiên, thật khó để những người bình phàm như chúng ta có thể so sánh với những đạo sư như vậy. Chúng ta vẫn cần hiểu rằng: những vị mà hoạt động Giáo Pháp – truyền bá Phật Pháp và làm lợi chúng sinh – đã trở nên thực sự bao la đều từng thọ nhận gia trì, ở những mức độ khác nhau, từ chư Phật và Bồ Tát và nhất là từ Guru Rinpoche. Khi gia trì hiện diện, làm lợi lạc chúng sinh xảy ra một cách tự nhiên.
Nếu không, ngay cả khi chúng ta mong mỏi giúp đỡ chúng sinh khác – và ngay cả khi chúng ta nói đến khàn cả giọng – nếu dòng tâm chúng ta như gỗ chết khô, chẳng được cam lồ gia trì chạm đến, thật khó để hoàn thành những lời nguyện của chúng ta. Vì vậy, nếu muốn chia sẻ Giáo Pháp và làm lợi lạc hữu tình chúng sinh, trước tiên, chúng ta phải thiết lập sự hiểu về giáo lý và có được trải nghiệm thực sự thông qua thực hành. Chỉ khi ấy, chúng ta mới có thể thực sự truyền cảm hứng, dẫn dắt và gia trì cho kẻ khác.
Và,
Ta ở bên những kẻ có tâm sùng mộ;
Với họ, Ta chẳng bao giờ tách rời.
Với những đệ tử mà niềm tin và lòng sùng mộ chân thành – thanh tịnh, Guru Rinpoche chẳng bao giờ tách rời – Ngài không “đi” đến vùng đất của La Sát. Miễn là chúng ta liên tục cầu nguyện đến Ngài, một cách chắc chắn như người không nhìn được dựa vào ai đó có thị lực tốt, Guru Rinpoche chắc chắn sẽ ban sự thoải mái và gia trì, xua tan chướng ngại trên con đường từ mọi phía.
Và,
Hư không mở rộng đến đâu,
Như thế, ở đó có chúng sinh;
Nghiệp và phiền não còn tồn tại thế nào,
Hoạt động của Ta nhanh chóng như thế.
Hư không vô lượng vô biên. Vì thế, chúng sinh sống trong hư không nhiều vô số; nghiệp và phiền não trói buộc họ cũng vô lượng. Trong cõi vô lượng của thời gian và không gian này, gia trì và hoạt động giác ngộ của Guru Rinpoche – việc Ngài quan tâm và làm lợi lạc chúng sinh – trở nên càng nhanh chóng và mạnh mẽ. Như đã nhắc đến trước đó, hoạt động của chư Phật và Bồ Tát xuất hiện khác biệt vào thời mà Pháp chân chính phát triển và vào thời của sự suy giảm. Khi thế giới ngày càng trở nên hỗn loạn và tiến sâu vào thời suy đồi, hoạt động và gia trì của Guru Rinpoche soi sáng còn rực rỡ hơn – như mặt trời – soi tỏ trái tim của chúng sinh. Vì thế, trong thời kỳ năm suy đồi này, điều đặc biệt quan trọng là chúng ta cầu nguyện đến Guru Rinpoche, đấng bảo hộ duy nhất của chúng ta.
Ngày nay, nhiều hành giả không có niềm tin mạnh mẽ với Guru Rinpoche hay Kim Cương thừa. Tôi không nói với sự chắc chắn tuyệt đối rằng thực hành như vậy không thể thành công, nhưng sẽ khó khăn hơn nhiều. Trái lại, một số người – mặc dù không xuất chúng về sự thông tuệ, khả năng hay tri kiến – lại có niềm tin hiếm có với Guru Rinpoche từ khi còn nhỏ. Kiểu niềm tin này không dễ tìm và bằng cách nương tựa nó, sự hành trì của họ chắc chắn sẽ thành tựu. Lama Yidzhin Norbu thường nói trong các bài giảng Pháp rằng vào thời suy đồi, cầu nguyện đến Guru Rinpoche thực sự vô cùng quan trọng. Vì thế, mọi người cần thường xuyên tụng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng. Miễn là bạn có niềm tin, bạn chắc chắn sẽ thọ gia trì.
Nhiều người chúng ta cảm thấy bản thân vẫn chưa tích lũy đủ túc số. Hãy xem thầy Osel, thị giả của Mipham Rinpoche: thầy đã tụng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng 1,3 triệu biến. Đấy không phải là Chân ngôn Đạo Sư Kim Cương; vì thế, 1,3 triệu đã là con số ấn tượng. Nó cho thấy niềm tin của các hành giả quá khứ có thể phi phàm ra sao – rất khác với thời chúng ta, khi mà những xao lãng xuất hiện thật dễ dàng.
Tầm Quan Trọng Của Việc Tiếp Thu Giáo Pháp
Thực sự, ngày nay, chúng ta cần Phật Pháp nhiều hơn. Nếu không, giữa những áp lực liên miên của cuộc sống hiện đại, tâm chúng ta khó có thể tự do hay thoải mái. Vào thời xa xưa, ngay cả khi người ta không sống trong các Tu viện hay những nơi yên tĩnh khác, môi trường sống của họ khá an bình và tâm họ không xáo động đến vậy. Nhưng hiện nay, đối diện với kích thích liên tục từ hình ảnh, âm thanh, mùi và vị bên ngoài, ngoại trừ một số rất ít hành giả với sự tập trung, đa phần thấy khó ổn định tâm. Vào những lúc như vậy, không có gia trì của chư Phật và Bồ Tát cùng với niềm tin ổn định của bản thân, thực sự không dễ để sự hành trì có được khởi đầu và kết thúc tốt đẹp!
Vì thế, điều quan trọng là chúng ta thực sự tiếp thu giáo lý Phật trong tâm. Có được chứng nhận quy y thì không khó, và cạo đầu rồi đắp y tu sĩ cũng chỉ tốn vài phút. Một số người thậm chí xuất gia vì vẻ ngoài – “Giờ con là tu sĩ, thầy ơi – trông con có đẹp không?”. Trông có đẹp không không quan trọng. Điều quan trọng hơn cả là tâm hòa hợp với Giáo Pháp; thực sự phát khởi nhận thức về sự vô thường của đời người, xả ly và Bồ đề tâm và thậm chí là những chứng ngộ cao hơn của Kim Cương thừa, chẳng hạn Dzogchen.
Dĩ nhiên, điều này không thể đạt được trong ngày một ngày hai. Ngoại trừ rất ít người có căn cơ vô cùng sắc sảo, những vị có thể giác ngộ ngay lập tức chỉ bằng một chỉ dẫn trực chỉ – điều xảy ra trong cả truyền thống Thiền Tông và Mật thừa – tuy nhiên, trong thời kỳ suy đồi hiện nay, hiện tượng như vậy khá hiếm. Truyền thống Mật thừa cơ bản vẫn tốt hơn nhiều. Nhiều người tiếp tục thực hành giáo lý của phần Mật điển và phần nghi quỹ và vẫn có khá nhiều hành giả tiến hành nhập thất gần các Tu viện. Dĩ nhiên, cũng có những hành giả chí thành trong Phật giáo Thiền Tông.
Phật Giáo Và Sự Thế Tục Hóa: Chúng Ta Cần Phản Ứng Ra Sao?
Tuy nhiên, trong Thiền Tông, một số người đang khiến “Thiền” trở nên ngày càng thế tục, điều dường như trái với tư tưởng cổ xưa của việc thấy bản tính và đạt giác ngộ. Hôm trước, tôi đã xem một DVD với tựa đề “Thiền Tông Sâu Xa Của Trung Hoa”. Có hình một tu sĩ trên bìa và tôi nghĩ rằng ông ấy giảng hay; vì thế, tôi muốn tìm hiểu điều gì đó chân chính về Thiền. Nhưng khi tôi mở trong máy tính, hóa ra nó lại là về cách bán trà! Tôi nghĩ, “Không sao, không sao, tôi đã có nhiều trà Phổ Nhĩ rồi mà không cần mua”, và ngừng xem.
Nói về Thiền, mặc dù nó có thể được giải thích thông qua các văn hóa khác nhau, điều cốt lõi nhất của nó là gì? Đó là nhận ra bản tính của tâm. Giáo lý về nhận ra bản tính của tâm là điều mà chúng ta tìm kiếm và cần nhất. Về những thứ khác – như giao dịch cổ phiếu, buôn bán hay pha trà – chúng ta chẳng cần các khái niệm Phật giáo cho bất kỳ điều gì trong đó; người thế gian đã đủ thông minh trong những lĩnh vực này. Người Mỹ có văn hóa trà riêng; người Nhật có truyền thống trà của mình.
Do đó, tôi cảm thấy rằng điều căn bản nhất là giúp đỡ người ta hiểu giáo lý Phật. Vô số chúng sinh trên thế gian này không hiểu bản tính của tâm; họ cũng chẳng thể lĩnh hội những giáo lý vi tế chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật và Bồ Tát. Vì thế, những vị đã chứng ngộ hay những vị chưa chứng ngộ nhưng có sự xác quyết sâu sắc với Phật Pháp, trong khi tận hưởng vị tuyệt vời của Giáo Pháp, cần trao lại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đấy cũng chính là tiếp tục huệ mạng của Giáo Pháp.
Nói ngắn gọn, nếu Phật giáo trở nên quá thế tục hóa, nó sẽ không đem đến nhiều lợi lạc. Mặc dù Đức Phật dạy về “tùy thuận chúng sinh’, điều đó không đơn giản nghĩa là thỏa mãn sở thích của họ. Khi Choje Yidzhin Norbu dạy Bài Ca Chiến Thắng, Ngài nói, “Tùy thuận không phải là không có nguyên tắc – khi kẻ khác phát khởi tham, con cũng hùa theo; khi họ phát khởi sân, con cũng hùa theo – đấy không phải là ý nghĩa”. Chúng ta cần xem xét liệu hành xử theo ước muốn của người khác có ý nghĩa không. Nếu nó ý nghĩa, chúng ta có thể tạm thời đồng thuận với họ. Nhưng ngay cả vậy, khi thời điểm thích hợp, chúng ta cần hướng tâm họ về Giáo Pháp – đấy mới là ý nghĩa của tùy thuận.
THIỀN ĐỊNH VỀ ĐẠO SƯ
Chú Thích Về Thực Hành Đạo Sư Mật Tập có viết rằng,
Nếu con muốn nhanh chóng hoàn thiện hai tích lũy,
Thành tựu mục tiêu tinh túy,
Thì tốt hơn cả các Mật điển và luận giải
Của Kim Cương Quả thừa Chân ngôn Bí mật –
Hãy thiền định về Đạo Sư!
Trong Chân ngôn Bí mật (Kim Cương Quả Thừa), có một lượng giáo lý bao la trong phần Mật điển và phần nghi quỹ. Thực hành chúng chắc chắn có thể đem đến thành tựu. Thế nhưng, nếu chúng ta muốn hoàn thiện hai tích lũy về công đức và trí tuệ nhanh hơn, chứng ngộ tinh túy rốt ráo của mọi hiện tượng, thì một điểm không thể thiếu: Đạo Sư Du Già, thực hành về đạo sư – đặc biệt là Đạo Sư Du Già về Đạo Sư Liên Hoa Sinh. Về mặt tốc độ, chiều sâu và tầm quan trọng, nó vượt xa mọi thực hành khác.
Chúng ta phải thực hành Đạo Sư Du Già, trong đó, chúng ta xem Đức Liên Hoa Sinh là Bổn Sư. Nhiều người hy vọng đạt chứng ngộ nhờ Kim Cương thừa, nhưng nếu chúng ta bỏ qua Đạo Sư Du Già và tìm kiếm phương pháp nào khác, sẽ rất khó để thành công. Chư đạo sư vĩ đại của Sakya, Geluk, Nyingma và các truyền thống khác đều dạy điều này nhiều lần: khi đạo sư và vị Tôn xuất hiện cùng nhau, chư vị luôn thỉnh cầu gia trì từ đạo sư, nhận ra đạo sư là Phật đích thực. Nếu chúng ta thực hành Đạo Sư Du Già về Guru Rinpoche với kiểu niềm tin đó, thành tựu chắc chắn sẽ đến.
Tương tự, Mật Điển Suối Cam Lồ tuyên bố rằng,
So với thiền định về trăm nghìn vị Tôn,
Thiền định về một Đạo Sư duy nhất là thù thắng.
Thiền định về trăm nghìn vị Tôn, chẳng hạn Quán Thế Âm và Văn Thù Sư Lợi, đem đến vô lượng công đức. Nhưng nếu chúng ta muốn đạt chứng ngộ trong thời gian ngắn, chúng ta cần nương tựa Đạo Sư Du Già. Nó ưu việt hơn các thực hành khác – bao gồm cả giai đoạn sinh khởi và hoàn thiện – trong việc nhanh chóng đem đến chứng ngộ. Vì vậy, Đạo Sư Du Già đặc biệt quan trọng và đặc biệt là, Đạo Sư Du Già về Đức Liên Hoa Sinh, điều có thể nhanh chóng dẫn dắt chúng ta đến giác ngộ. Ngay cả khi chúng ta không giác ngộ trong chính đời này, nó đem đến lợi lạc to lớn trong đời hiện tại và khoảnh khắc lâm chung của chúng ta.
Trong tiểu sử Ngài Lala Sonam Chodrup có ghi lại rằng khi sắp viên tịch, Ngài bảo với thị giả Aso rằng: “Đừng ngồi đây – Guru Rinpoche đến rồi!”. Thị giả không dám ngồi gần và đã bước sang một bên để nhìn từ xa. Ông ấy thấy đạo sư rạng rỡ với nụ cười, nghỉ ngơi trong trạng thái mà tâm đạo sư và Guru Rinpoche chẳng thể tách rời. Sau đó, trong tư thế sư tử nằm ngủ, Ngài an nhiên viên tịch.
Suốt cuộc đời, những vị Tôn chính yếu mà Ngài đã thực hành là Guru Rinpoche và Văn Thù Sư Lợi và hầu hết các chỉ dẫn cốt tủy mà Ngài trao cho đệ tử là giáo lý cốt yếu của Guru Rinpoche. Khi chúng ta thực hành Đạo Sư Du Già, chúng ta cũng cần rèn luyện trong việc ổn định vào trạng thái mà Guru Rinpoche và tâm chúng ta chẳng thể tách rời. Điều này rất quan trọng và thực sự là điều được giải thích trong các giáo lý Mật thừa. Vì thế, nếu bạn băn khoăn liệu điều chúng ta đang thảo luận có được “tính” là Kim Cương thừa, thì có!
Gần đây, Cúm A (H1N1) đang hoành hành; vì thế, tôi khuyến khích tất cả tụng Chân ngôn Kim Cương Giáp (Dorje Gotrab)[1]. Tính khí mọi người thì khác nhau: một số trở nên rất sợ hãi, trong khi số khác có vẻ thờ ơ. Nhưng là hành giả, chúng ta không nên bị nỗi sợ hãi cái chết áp đảo. Nếu sợ hãi ghê gớm khởi lên, nó đơn giản cho thấy sự hành trì của chúng ta chưa chín muồi và đấy là điều mà chúng ta có thể khắc phục. Chúng ta cần trưởng dưỡng tinh thần không sợ cái chết. Nếu bạn bị ốm, hãy cẩn thận quán sát xem nó ra sao và theo dõi cách mà tâm bạn phản ứng. Như thế, bạn sẽ thấy rõ ràng thực hành của bạn thực sự đang ở đâu.
TRIỆU THỈNH GURU RINPOCHE VÀO NGÀY MƯỜI
Và Sự Cầu Khẩn Ngày Mười, một bản văn kho tàng của Ratna Lingpa, chứa đựng những lời này của Guru Rinpoche:
Nhờ Ta, Liên Hoa Sinh –
Và nhờ ý nghĩ thiện lành của Ta vì lợi kẻ khác –
Những vị phát lộ kho tàng, những hóa hiện, sẽ xuất hiện vào những lúc khác nhau
Những lời cầu khẩn cho ngày Mười xuất hiện trong nhiều bản văn Terma được phát lộ bởi các Terton khác nhau. Tại Tu viện Domang của chúng tôi, Terton vĩ đại Dorje Dechen Lingpa đã để lại một quyển rất lớn về những lời cầu khẩn như vậy; nội dung của nó đặc biệt xuất sắc và sâu xa. Hằng năm, vào ngày Mười tháng Năm Tây Tạng, chúng tôi thường lấy ra, tất cả tu sĩ cử hành vũ điệu kim cương và dành ba hay bốn ngày trì tụng và thực hành lời cầu khẩn này.
Gia Đình Tôi Bảo Vệ Terma Cuối Cùng Còn Lại Của Dorje Dechen Lingpa
Tôi nhớ vào thập niên 1970, trước khi tự do tôn giáo trở lại. Vị dẫn tụng từ Tu viện Domang đã sống kế bên gia đình tôi. Thầy có một bản kinh văn Tây Tạng dạng dời, dày và dài về Sự Cầu Khẩn Ngày Mười của Dorje Dechen Lingpa. Bởi có các tu sĩ trong nhà thầy, quan chức thường đến tìm kiếm; vì thế, thầy đặc biệt lo sợ. Thầy đã yêu cầu chúng tôi giấu bản văn này bởi khi ấy, không có tu sĩ nào trong gia đình tôi và chính quyền ít nghi ngờ chúng tôi. Vị tu sĩ già bảo rằng, “Bây giờ, Tu viện chúng tôi chỉ còn lại một bản sao này. Nếu nó bị phá hủy, dù sau này có cơ hội, chúng tôi cũng chẳng thể tổ chức Nghi Lễ Ngày Mười”.
Là một gia đình du mục, chúng tôi thường phải di chuyển – vào mùa Hè cũng như mùa Đông, liên tục thay đổi vị trí lều trại. Em trai tôi và tôi khi ấy vẫn còn nhỏ và bất cứ khi nào chúng tôi đến một địa điểm mới, điều đầu tiên chúng tôi phải làm là tìm một hang động trên núi hay hang đá để cẩn thận bọc và giấu bản văn. Theo cách này, chúng tôi đã giấu nó trong sáu hay bảy năm, cho đến khi tự do tôn giáo được phục hồi và chúng tôi có thể trả lại cho vị tu sĩ già. Hóa ra đây thực sự là bản sao duy nhất còn lại của Sự Cầu Khẩn Ngày Mười của Dorje Dechen Lingpa – tất cả những bản sao khác đã bị phá hủy trong Cách mạng Văn hóa.
Tu viện và dân chúng địa phương đều nghĩ rằng vị tu sĩ thật đặc biệt, không biết rằng chúng tôi đã giúp bảo vệ bản văn. Đôi lúc, khi chúng tôi nghe người khác tán thán ông ấy, cha mẹ tôi lại lén nói vài lời: “Trong tất cả những năm ấy, chúng tôi là người đã vất vả giữ nó an toàn. Ồ, không sao, không sao!”.
Khai Mở Terma: Một Giới Thiệu Về Giáo Lý Ẩn Giấu Của Guru Rinpoche
Về giáo lý Terma, bên cạnh ý nghĩa cực kỳ sâu xa – điều khiến chúng tách biệt với những trước tác được tạo ra bởi tâm quan niệm của các học giả – chúng còn được đặc trưng bởi ngôn ngữ cô đọng, văn phong đẹp đẽ và cấu trúc rõ ràng. Những phẩm tính độc đáo này rõ ràng đến mức, khi đọc bản văn như vậy, người ta có thể lập tức cảm thấy chúng khác biệt ra sao so với những tác phẩm thông thường. Bởi những phẩm tính này, người ta thường miêu tả một bản văn nghi lễ được khéo biên soạn là “giống như một Terma”.
Ở các vùng Tây Tạng, thực sự có nhiều Terton, bởi tinh túy giáo lý của Guru Rinpoche chủ yếu bao gồm giáo lý Terma. Terma là phương pháp vô cùng quan trọng để giữ gìn kinh văn – thậm chí nếu chiến tranh nổ ra trên thế giới hay tai ương của đất, nước, lửa và gió xuất hiện, ngay cả khi toàn bộ hành tinh bị phá hủy, giáo lý Terma không thể bị phá hủy. Điều này là bởi Guru Rinpoche, nhờ sức mạnh của những lời nguyện, đã giao phó giáo lý Terma này cho những vị thổ thần địa phương, hay chôn giấu chúng trong trí tuệ Phật tính của đệ tử giác ngộ, niêm phong bằng gia trì chẳng thể nghĩ bàn và không thể phá hủy.
Với chúng sinh bình phàm, khi họ trải qua vòng sinh – tử, những ý nghĩ lan man liên tục thay đổi và ký ức của họ trải qua sự biến chuyển. Tuy nhiên, Terma được chôn giấu trong trí tuệ Pháp giới, nơi mà hình tướng và tính Không bất nhị. Trí tuệ này có thể hiển bày vào bất kỳ lúc nào thông qua trạng thái giác ngộ của Terton và khi nó xảy ra, nó luôn luôn xuất hiện dưới dạng ký tự Dakini hay ký tự biểu tượng.
Trong quá khứ, Lama Yidzhin Norbu thường giữ nhiều ký tự Dakini từ các Terma. Chúng tôi từng thấy chúng; đôi khi, chúng giống như ký tự trên xương động vật cổ đại, như thể được khắc trên bề mặt thô ráp của vỏ cây – rất nhỏ, với chỉ một hay hai ký tự. Một hay hai ký tự này thực chất đơn thuần là vật ghi thông tin – giống như một mật mã – thứ có thể mở ra kho tàng ký ức ẩn giấu của Terton. Một số người băn khoăn: “Làm sao một giỏ kho tàng nhỏ có thể chứa một bộ lớn các quyển như vậy? Làm sao một hay hai mảnh ký tự Dakini có thể hiển bày thành nhiều giáo lý Terma đến vậy?”. Thực sự, những vật Terma này chỉ là lời nhắc; nhờ chúng, toàn bộ nội dung của Terma sẽ xuất hiện trong tâm trí tuệ của Terton.
Lama Yidzhin Norbu cũng bảo chúng tôi rằng nếu hoàn cảnh để một Terma xuất hiện chín muồi, Terton phải viết nó lại; nếu không, chư vị sẽ liên tục bị phiền nhiễu – hôm nay nó xuất hiện, ngày mai nó xuất hiện và hôm sau nó lại xuất hiện – Terma cứ xuất hiện đi xuất hiện lại trong tâm. Tuy nhiên, khi nó được viết lại, tất cả những phiền nhiễu như vậy lập tức chấm dứt.
Không lâu trước đây, một Lama già kể với tôi rằng đạo sư của thầy từng là thị giả của Dorje Dechen Lingpa và biết gì đó về việc phát lộ Terma. Đôi khi, nửa đêm, Dechen Lingpa nhận được một dấu hiệu, ngay lập tức đánh thức các thị giả, bảo họ nơi cần đi và sau đó, họ vượt qua những ngọn núi, đi suốt đêm. Điều này thường xảy ra; vì thế, các thị giả luôn sẵn sàng; ngay cả khi đi ngủ, họ vẫn đeo thắt lưng, sẵn sàng mọi lúc để theo đạo sư đi phát lộ Terma.
Lần nọ, Dechen Lingpa nói với một thị giả, vị mà tôi không thể nhớ tên, “Chúng ta sắp phát lộ một Terma – hãy đi cùng Ta ngay!”. Họ gấp rút không ngừng suốt cả đêm và sáng hôm sau mới tới nơi – một khu rừng trên đỉnh núi. Trên đường, Terton bảo thị giả, “Hôm nay, không phải Ta phát lộ Terma, mà là con!”. Thị giả bối rối: “Con chỉ là người thường – làm sao con có thể phát lộ một Terma?”. Nhưng khi họ tới nơi, vị trí Terma tự nhiên xuất hiện trong tâm thị giả và ông ấy đã phát lộ được nó. Như thế, trong các Terma của Dechen Lingpa, cũng có một số giáo lý được đệ tử của Ngài phát lộ. Trong lịch sử, có vô số những chuyện diệu kỳ như vậy.
Bên cạnh đó, giáo lý Terma có nhiều phẩm tính riêng biệt: truyền thừa của chúng không gián đoạn và không thể bị tổn hại bởi ảnh hưởng của ngoại đạo; nguồn gốc của chúng thanh tịnh, không bị tác động bởi những ý nghĩ phân biệt thế gian; chúng sở hữu trí tuệ cực kỳ sâu xa; và sau khi được phát lộ, gia trì của chúng hoạt động đặc biệt nhanh chóng cho vô số chúng sinh. Giống như nhiều chúng sinh đạt chứng ngộ khi Đức Phật lần đầu tiên chuyển Pháp luân, khi Terma được phát lộ, chúng có thể cho phép chúng sinh may mắn nhanh chóng đạt thành tựu.
Dĩ nhiên, cũng có nhiều Terma giả. Guru Rinpoche đã tiên đoán rằng: “Khi các kho tàng Terma chân chính của Ta xuất hiện trên thế gian và giáo lý Terma bắt đầu lan tỏa, nhiều Terton giả cũng sẽ xuất hiện, như nấm mọc trên đồng cỏ”. Về việc phân biệt Terma chân chính với Terma giả, Mipham Rinpoche đã cung cấp những giải thích trong Ngọc Báu Làm Sáng Tỏ, trong khi Ngài Dodrupchen Jigme Tenpe Nyima cũng thảo luận các phương pháp để kiểm tra.
Vì vậy, những vị tự gọi mình là Terton cũng không nhất thiết là vị phát lộ kho tàng chân chính. Một số người soạn một bản văn nghi lễ bằng tâm quan niệm, sau đó, đi khắp nơi rêu rao “Terma” của họ, nhưng gia trì của những Terma giả này hoàn toàn khác với điều chân chính. Những người như vậy chẳng bao giờ nhận được dấu hiệu hay tiên tri của Guru Rinpoche; họ đơn thuần biết cách viết, sau đó, tuyên bố họ là “Terton”. Điều này giống một số Pháp hữu ở đây, những vị rõ ràng là chưa đạt chứng ngộ, nhưng bởi kiêu ngạo, lại nghĩ rằng, “Tôi giác ngộ rồi, tôi không cần thực hành nữa” – họ thực sự tin vậy.
Tóm lại, trong thời suy đồi này, giáo lý Terma chính là tinh túy của Chân ngôn Bí mật thừa.
Trở lại Sự Cầu Khẩn Ngày Mười đã đề cập trước đó: nó nói rằng, nương tựa ý định vị tha làm lợi lạc chúng sinh khác, Guru Rinpoche hiển bày các Terton vào những thời điểm khác nhau và mỗi Terton sẽ tiến hành các hoạt động Terma nhất định. Ví dụ, khi phát lộ Terma, một số phát lộ các bản văn, một số phát lộ tôn tượng hay giỏ kho tàng còn một số phát lộ những vật dụng nghi lễ thế gian, v.v.
Nhiều Phát Lộ Terma Của Choje Yidzhin Norbu
Mặc dù Geluk, Sakya và các trường phái khác cũng có Terma, chúng tương đối ít – đa phần Terma được chôn giấu bởi Guru Rinpoche. Khi Choje Yidzhin Norbu đến Mỹ, dân chúng ở đó nói rằng: “Thật tuyệt vời nếu Đạo Sư Liên Hoa Sinh từng đến Mỹ! Chúng con muốn một Terma cũng được phát lộ ở đây”. Thực sự, khắp các vùng Tây Tạng, nhiều đá và hồ có Terma ẩn giấu. Tôi từng xem đoạn phim Lama Yidzhin Norbu phát lộ nghi quỹ Kim Cương Tát Đỏa từ Hồ Nyenbo Yurtse ở Tỉnh Thanh Hải. Nước sâu quá đầu Ngài. Thế nhưng, mặc dù thân thể Rinpoche khá nặng, Ngài vẫn nổi trên mặt nước, trôi ra giữa hồ và phát lộ Terma.
Bên cạnh đó, Rinpoche đã phát lộ một bức tượng tại Gowo Lha Tse[2] ở Dawu, cũng như Thực Hành Hằng Ngày Dorje Drolö tại Paro Taktsang ở Bhutan, nghi quỹ Phổ Ba Kim Cương Gurkhukma từ động Asura ở Yanglesho, Nepal – tôi đã có mặt vào tất cả những dịp này. Tại Paro Taktsang, Rinpoche giải thích rằng hang động nơi Đạo Sư Liên Hoa Sinh đạt chứng ngộ có một kho tàng đất sâu xa – một pho Terma gồm chín quyển về Dorje Drolö. Ngài lưu ý rằng phát lộ toàn bộ pho giáo lý ngay lúc đó sẽ đem đến tổn thất cho Bhutan; vì thế, Ngài quyết định không phát lộ toàn bộ pho Terma khi ấy. Do đó, Rinpoche phát nguyện trở lại trong đời sau để phát lộ toàn bộ giáo lý, giao phó Terma một lần nữa cho chư Hộ Pháp và chỉ rút ra Thực Hành Hằng Ngày Dorje Drolö.
Tôi nhớ rằng trong lúc ở Bhutan, Lama Yidzhin Norbu đã viếng thăm ngôi nhà của những hậu duệ của Terton Nyang Nyima Özer. Vị Terton này đã phát lộ một dao Phổ Ba; khi thấy dao Phổ Ba, một nghi thức về Tám Giáo Lý Nghi Quỹ Vĩ Đại tự nhiên tuôn trào từ tâm trí tuệ Rinpoche. Ngài đã lập tức cho viết lại và bảo rằng nó không được công khai trong ba năm, sau đó, có thể được chia sẻ rộng rãi hơn. Ba năm sau, khi tôi hỏi liệu bản văn này có thể được công bố, Rinpoche nói hoàn cảnh cát tường vẫn chưa chín muồi. Nếu nghi thức này được công bố, người ta sẽ thấy nội dung mới mở rộng làm sao.
Những câu chuyện vi diệu này không phải huyền thoại, mà là sự kiện có thật. Nếu chúng ta gom lại tất cả các bản văn Terma được từng vị Terton phát lộ, chồng kinh văn sẽ cao như núi. Như phần sau của giáo lý này có nói, mỗi vùng có một Terton địa phương, một đài tưởng niệm sống động về Đức Liên Hoa Sinh, nhắc nhở chúng ta về Ngài theo cách thức trực tiếp. Thực sự, nhiều Terton hoàn toàn vô danh. Ở một vùng nhỏ như Serta, từng có nhiều Terton mà các giáo lý Terma tạo thành hai mươi đến ba mươi quyển. Ở quê nhà Drango của tôi cũng vậy – các Terton đã để lại nhiều quyển kinh văn. Đôi khi, một hay hai Tu viện có thể có một Terton, nhưng bởi một số vô danh, giáo lý Terma của chư vị chỉ lưu truyền trong một vùng nhỏ, được thực hành bởi vài hành giả. Tôi từng thấy một Terma được phát lộ bởi một Terton ít người biết – nội dung cực kỳ cao quý – nhưng sau này khi tôi hỏi thăm về vị ấy, Ngài không nổi tiếng chút nào. Thậm chí lúc Ngài còn sống, nhiều người cũng không biết Ngài là một Terton.
BẤT CỨ NƠI NÀO CÓ NIỀM TIN, GURU RINPOCHE HIỆN DIỆN Ở ĐÓ
Các Đoạn Kệ Khác Từ Sự Cầu Khẩn Ngày Mười Của Ratna Lingpa
Tiếp theo là những đoạn kệ bổ sung mà Mipham Rinpoche trích từ bản văn kho tàng của Ratna Lingpa, Sự Cầu Khẩn Ngày Mười. Những đoạn kệ này hé lộ rằng cầu nguyện đến Guru Rinpoche chắc chắn đem đến gia trì.
Tóm lại, phương tiện lợi lạc của Ta vượt qua mọi khái niệm.
Lòng từ của bậc thầy từ Orgyen không nhỏ, mà thật lớn lao.
Mỗi vùng có một nơi cao quý và thiêng liêng,
Một đài tưởng niệm tưởng nhớ Đấng Orgyen.
Tại mỗi biên giới sẽ có một kho tàng.
Đây cũng sẽ nơi tưởng niệm Đấng Orgyen.
Và tương tự, kinh văn nói rằng các nghi lễ và thực hành khác nhau để điều phục lực xấu xa, điều mà ở từng làng, được cử hành bởi tu sĩ hay hành giả cư sĩ của Chân ngôn Bí mật – chúng cũng là những đài tưởng niệm đạo sư xứ Orgyen.
Tương ứng với vô số chúng sinh cần điều phục, Guru Rinpoche để lại những thánh địa ở mỗi vùng – những nơi được gia trì bởi thân, khẩu, ý, phẩm tính và hoạt động của Ngài – tất cả đóng vai trò là đài tưởng niệm sinh động đến Guru Rinpoche.
Như tôi đã nhắc đến trước đó, nhiều Terma được phát lộ ở khắp các vùng Tây Tạng. Tuy nhiên, một số nghi lễ và thực hành Terma – bao gồm cả những điều liên quan đến phương tiện thiện xảo và sự điều phục – được thực hành chỉ bởi một số lượng nhỏ trong vòng hạn chế. Chúng ta có thể băn khoăn liệu rất nhiều kho tàng Terma như vậy có chân chính. Tuy nhiên, khi quán chiếu, rõ ràng là Đạo Sư Liên Hoa Sinh đã chôn giấu rất nhiều Terma vì lợi lạc của hữu tình chúng sinh khắp các thời kỳ và hoàn cảnh khác nhau.
Và bản văn này nói thêm rằng:
Nếu nói ngắn gọn, cách thức làm lợi lạc của Ta nằm ngoài sức tưởng tượng,
Tất cả sẽ là đài tượng niệm về Ta, Đạo Sư Orgyen.
Vào thời kỳ tương lai khi người ta mong mỏi Ta
Và nghĩ đến Ta với tình yêu thương khát khao,
Hãy nhìn xem, Ta sẽ đứng bên cạnh họ.
Và tất cả những ai vào ngày Mười của trăng tròn dần
Nhớ đến và tưởng niệm Ta –
Họ và Ta sẽ chẳng bao giờ tách rời …
Với tất cả những ai đặt niềm tin của họ vào Guru Rinpoche, Ngài sẽ xuất hiện trước họ, ban quán đỉnh và gia trì. Đặc biệt, vào ngày Mười cát tường mỗi tháng, kẻ nào nghĩ về Guru Rinpoche, Ngài sẽ không bao giờ rời bỏ họ.
Trong tương lai, nếu hoàn cảnh chín muồi, bạn cần cầu khẩn Guru Rinpoche bất kể ngày – đêm. Ngay cả khi những hoàn cảnh không cho phép vậy thì bất kể bạn ở đâu, ít nhất, vào ngày Mười mỗi tháng, hãy nghĩ rằng: “Hôm nay, Guru Rinpoche từng phát lời nguyện đặc biệt với tất cả chúng sinh – đặc biệt gia trì họ vào ngày này”. Vào dịp cát tường này, hãy chí thành cầu khẩn Guru Rinpoche, cử hành cúng dường Tsok và các thực hành Pháp khác; nhờ làm vậy, gia trì chắc chắn sẽ khởi lên trong dòng tâm bạn.
Ta là Liên Hoa Sinh; Ta không nói dối.
Và vì thế, này những kẻ sùng mộ, hãy hoan hỷ …
Trong Dấu Chân Trên Hành Trình[3], tôi đã trích một giáo lý từ Terton Pema Lingpa: “Trong thời suy đồi này, những kẻ có niềm tin với giáo lý Terma chắc hẳn trước kia từng diện kiến Guru Rinpoche và phát những lời nguyện. Tất cả những kẻ như vậy có kết nối may mắn và thiện căn; vì thế, họ cần cảm thấy niềm hoan hỷ trong chính mình”. Nhìn vào gương mặt các bạn, các bạn thực sự có niềm tin và sự yêu thích lớn lao với giáo lý Terma. Theo lời của Pema Lingpa, các bạn chắc hẳn từng thiết lập kết nối cát tường với Guru Rinpoche trong đời quá khứ. Nếu không, khi Terma được nhắc đến, bạn có thể thấy ác cảm hay không thoải mái – các bạn thấy sao? Các bạn có thấy hoan hỷ không? (Thính chúng đáp rằng: “Có ạ!”). Dường như các bạn đều là những đệ tử chân chính của Guru Rinpoche. Theo những lời của vị Terton này, có vẻ tôi cũng từng là đệ tử của Guru Rinpoche …
Với vua và triều đình, những môn đồ của Ta ở Tây Tạng,
Ta nói rằng vào ngày Mười của trăng tròn dần,
Ta cam kết sẽ đến,
Và Liên Hoa Sinh không lừa dối …
Khi Guru Rinpoche rời Tây Tạng đến vùng đất của La Sát, Ngài hứa với vua và các thượng thư của Tây Tạng: “Nếu con cầu nguyện đến Ta vào ngày Mười mỗi tháng, Ta chắc chắn sẽ đến. Ta, Guru Rinpoche, hứa ở đây như vậy và sẽ không bao giờ lừa dối bất kỳ ai!”.
Và khi con cầu nguyện bằng lời cầu khẩn bảy dòng,
Gia trì của Ta tuôn chảy trong dòng chảy không ngừng;
Khi gia trì của Ta trút xuống và thiền định của con bùng nổ,
Hãy biết rằng đấy là dấu hiệu rằng Ta hiện diện …
Nhờ cầu nguyện bằng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng, bạn sẽ thọ nhận gia trì của Guru Rinpoche, không ngừng nghỉ và liên tục như dòng sông chảy. Khi sự cộng hưởng khuấy động trong bạn và niềm tin sâu sắc khởi lên, hãy biết rằng Guru Rinpoche đã đến. Là chúng sinh bình phàm với nghiệp chướng nặng nề, chúng ta có thể không trực tiếp thấy được Guru Rinpoche trong thiền định như chư vị chứng ngộ. Tuy nhiên, qua giấc mơ hay trải nghiệm bên trong, những vị có ít nghiệp chướng hơn có thể cảm nhận rằng Guru Rinpoche đang ban gia trì và quán đỉnh cho họ. Khi những dấu hiệu như vậy xuất hiện – dẫu cho không trực tiếp thấy Guru Rinpoche – hãy biết rằng Ngài đã đến.
Còn với Ta, thực sự, chẳng có đến và chẳng có đi.
Con gặp Ta khi nghiệp và che chướng của con,
Cả hai được tịnh hóa.
Theo những lời cầu nguyện và nhận thức tương đối
Của những kẻ mà Ta có thể rèn luyện,
Ta thực sự đang cư ngụ ở vùng đất của La Sát.
Và bởi dòng chảy bi mẫn của Ta không gián đoạn,
Ta hiện diện liên tục trước những kẻ có niềm tin …
Từ quan điểm quy ước, Guru Rinpoche đã rời đến lục địa của La Sát; ở đó, Ngài chuyển Pháp luân cho loài La Sát tại Núi Màu Đồng. Nhưng về sự thực rốt ráo, chẳng có đến và đi với Guru Rinpoche – trước những kẻ mà nghiệp được tịnh hóa, Ngài có thể hiển bày bất kỳ lúc nào. Lòng bi mẫn của Ngài với chúng sinh khổ đau chẳng bao giờ dứt và với tất cả những kẻ cầu nguyện đến Ngài, Guru Rinpoche mãi hiện diện, ban gia trì. Nhờ cùng nhau tìm hiểu Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng, tôi tin rằng nhiều người các bạn đã phát triển niềm tin và sự xác quyết lớn lao với truyền thống Terma và giáo lý của Guru Rinpoche. Nếu vậy, điều này sẽ tạo ra hoàn cảnh đặc biệt cát tường cho sự thành tựu của các bạn trong chính đời này.
Và vì thế, vào ngày Mười của tháng,
Hãy thiết tha triệu thỉnh Ta,
Biết rằng con đã đọa vào trong luân hồi.
Hãy trao cho Ta tâm trí con, toàn bộ con người con.
Đây chỉ là một vài trong số những hứa nguyện kim cương không sai trệch của Guru Rinpoche. Còn nhiều hứa nguyện khác nữa.
Guru Rinpoche nói rằng: “Con cần tinh tấn cầu nguyện đến Ta vào ngày Mười; với nhận thức về việc đã rơi vào luân hồi, hãy nương tựa Ta với lòng sùng mộ nhất tâm”. Có vô số những từ ngữ kim cương như vậy mà Guru Rinpoche đã hứa, và mọi người cần có niềm tin vững chắc với chúng. Đặc biệt với hành giả sống tại các thành phố hối hả, tôi mong các bạn sẽ không chối bỏ Kim Cương thừa, mà còn thực hành Kim Cương thừa trong khi nghiên cứu Kinh thừa – điều đem đến vô lượng gia trì.
Sự Phát Lộ Nước Thọ Mạng Của Zur Sakya-ö: Một Terma cho Kublai Khan
Một trong nhiều kiểu kho tàng vĩ đại mà Đức Liên Hoa Sinh chôn giấu là nước trường thọ. Sau đây là một miêu tả lịch sử đáng chú ý từ thời kỳ Đế Quốc Mông Cổ. Trong lịch sử Đại Viên Mãn, có một đạo sư vĩ đại tên là Zur Sakya-ö, vị vô cùng thành tựu về cả nghi lễ điều phục và việc phát lộ Terma. Khi Hoàng đế Mông Cổ Kublai Khan (Hốt Tất Liệt) đang tranh giành ngai vàng với em trai Ariq Boke (A Lý Bất Ca), ông ấy nghe nói rằng trong Phật giáo Tây Tạng có các thực hành Mật thừa oai hùng. Ông ấy đã thọ nhận các thực hành như vậy từ một đạo sư và nương tựa sức mạnh Chân ngôn, đánh bại em trai và giành được ngai vàng.
Sau đó, Kublai Khan nghe nói rằng Sakya-ö có thể phát lộ Terma về nước trường thọ của Guru Rinpoche; vì thế, ông ấy đã phái những sứ giả đặc biệt mang chiếu chỉ vàng của hoàng đế, yêu cầu đạo sư rút ra nước trường thọ và gửi cho ông ấy. Đáp lại, vị Khan hứa sẽ cung cấp những sự bảo vệ và đặc quyền khác nhau cho hành giả Mật thừa ở U Tsang và Kham. Miêu tả lịch sử này khá dài và được ghi lại trong cả Biên Niên Sử Xanh Dương và Trường Phái Nyingma Của Phật Giáo Tây Tạng của Dudjom Rinpoche.
Sau khi nhận được chiếu chỉ, Sakya-ö dẫn các sứ giả đặc biệt và hàng nghìn nhân chứng đi rút Terma. Tại lối vào hang động, họ gặp phải một trận lốc xoáy dữ dội chặn lối vào và không thể vào trong. Vị đạo sư tụng các Chân ngôn và lốc xoáy dịu xuống. Khi vào động, họ thấy nhiều than củi bên trong và ở giữa có một con ếch lạ. Khi nó cử động chân, một trận lốc xoáy lại nổi lên. Đạo sư đã điều phục bằng cách tụng Chân ngôn với chuỗi hạt, tuyên thuyết chân lý và lốc xoáy tan biến.
Sau đấy, Ngài thành công rút ra Terma, thứ bao gồm tượng Mã Đầu, Hợi Mẫu Kim Cương và Kim Cương Tát Đỏa, cùng với mười ba cuộn giấy chứa đựng phương tiện thành tựu. Trong các kho tàng này, có chiếc bình đá lưu ly, kích thước bằng lọ mực lớn, đựng nước thọ mạng – tất cả đều được chôn giấu bởi Guru Rinpoche. Khi thấy các kho tàng này, mọi người kinh ngạc.
Nếu Sakya-ö dùng phần đầu tiên của nước thọ mạng này, Ngài có thể sống thọ trăm năm. Tuy nhiên, Ngài chỉ chạm một giọt vào lưỡi như một cử chỉ biểu tượng trước khi trao nó. Các sứ giả du hành ngày – đêm trở về triều đình và dâng lên Kublai Khan. Vị Khan cực kỳ hài lòng và nhờ đó, đạt được sự trường thọ. Bản văn nói rằng ông ấy đã sống thọ trăm năm, mặc dù các ghi chép lịch sử nói rằng ông ấy đã sống đến ngoài tám mươi, vẫn là một cuộc đời rất trường thọ vào thời ấy.
Sau đó, thực sự Kublai Khan đã giữ lời hứa, ban một chiếu chỉ miễn thuế và quân dịch cho tất cả Mantrin (hành giả Mật thừa) của Trung Tâm Tây Tạng và Tsang. Để đưa Sakya-ö lên ngang hàng với các quốc sư, danh hiệu Pakshi đã được ban cho Ngài. Đổi lại việc đã dâng nước thọ mạng, Ngài được ban đất đai nuôi sống bốn mươi lăm hộ ở Mông Cổ và được phép xây dựng một Tu viện lớn trên Núi Medril. Những sự kiện này đều được ghi lại trong các nguồn lịch sử, minh chứng rằng giáo lý Terma được chấp nhận rộng rãi ngay cả ở cấp độ cao nhất của sức mạnh chính trị.
Về giáo lý Terma của Guru Rinpoche, trong khi một số nhân vật lịch sử quan trọng đã trải qua gia trì chẳng thể nghĩ bàn, những vị thực sự cảm nhận sức mạnh của chúng là hành giả tận tụy. Những vị tham gia vào giai đoạn sinh khởi và hoàn thiện tại các Tu viện đặc biệt có thể thực sự trải nghiệm bản tính phi phàm và sâu xa của chúng.
Hôm nay, hãy dừng lại ở đây.
Nguồn Anh ngữ: https://khenposodargye.org/books/ebooks/invoking-guru-rinpoche-a-practical-commentary-on-the-seven-line-prayer/.
Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ.