Hành thiền, khổ tu và thành tựu tâm linh |

Hành thiền, khổ tu và thành tựu tâm linh

Kho Tàng Terma Phối Ngẫu Tâm Linh

Chương này nói sơ lược về các pháp thành tựu của Đức Bà Yeshe Tsogyel, về việc bà thực hành tu tập ở Nhà Hội Dãkinĩ.

Lúc đầu ta sống trong một cái hang ẩn tu được đóng kín ở một góc Nhà Hội Tidro. Ta được các thí chủ địa phương đó cung cấp đầy đủ vật dụng cần thiết. Ta tinh tấn ứng dụng pháp thực hiện Guru Liên Hoa Sanh An Lạc trong thân vô vi của ngài. Chỉ sau một giai đoạn tham thiền ngắn ngủi, thân thể của ta biến thành thân thiêng liêng, và vị thần Yidam xuất hiện ngay trước mắt ta. Cảm nhận các kinh, mạch và các luồng tinh lực như mandala của vị Dãkinĩ, bất cứ hoạt động chuyển hóa nào mà ta bắt đầu cũng thành tựu một cách tự nhiên (16). Nhờ sự gia hộ của Đức Lama, tinh chất, vốn là tính chất của tâm, phát khởi như hình nhảy múa, của Đức Lama, và vạn vật điều trở thành các cõi tịnh của Đức Lama. Cùng lúc với sự xuất hiện tự nhiên của lòng tôn sùng chân thành, vô điều kiện đối với Đức Lama, mandala bên ngoài bắt đầu tỏa sáng rực rỡ, và các Daka với Dãkinĩ cùng nhau hiện ra lung linh trong giác thức của ta (17). Trong linh thị linh động đầy ánh sáng này, ta tới một nơi gọi là Orgyen Khandro Ling, tức xứ của các Dãkinĩ. Ở xứ này, các thân cây trông giống như dao cạo, đất phủ bằng thịt, núi là những đống xương tua tủa, những cục đất và hòn đá là những mảnh xương, ở giữa mandala này là một tòa lâu đài nguy nga đồ sộ xây bằng sọ và đầu người tươi hay khô, trần nhà màn cửa làm bằng da người. Xung quanh tòa lâu đài và ở cách một trăm ngàn dặm là một vòng núi lửa, một bức tường với những chày kim cương, một vòng những tia chớp, một vòng gồm tám nghĩa địa và một bức tường với những bông sen kiều diễm. Bên trong các vòng này có nhiều đàn chim ăn thịt, uống máu, nhiều đám mọi quỷ la sát nam nữ, cùng các thứ dử, tất cả chúng vây quanh ta, trừng mắt đe dọa, nhưng sau đó chúng không hung dữ mà cũng không thân thiện đối với ta.

Để vào trong lâu đài, ta đã qua ba lần cửa liên tiếp, nơi đây có nhiều Dãkinĩ khoác hình người mang các lễ vật cúng dường Dãkinĩ Trưởng. Họ dùng dao cắt thịt; cắt mắt, cắt mũi, móc lưỡi, moi tim, thẻo tai hay các bộ phận trong thân thể, cho đến chặt tay chân rút tủy hay để máu chảy khỏi mạch, thậm chí cúng dường cả sinh lực lẫn hơi thở, mỗi người một cách; sau khi cắt rời và sửa soạn dâng cúng họ trình những món này cho vị Dãkinĩ Trưởng cùng Người Phối Ngẫu.

“Ôi, người đàn bà lưỡng lự kia,

Muốn trở thành một Lama thực sự,

Hãy tức khắc ban rải từ bi,

Hoãn niềm vui nhỏ, biết đâu là điều sung sướng lớn,

Vì trí huệ về chân lý tối thượng là tức khắc,

Nhanh như tia chớp thành tín,

Nếu không dâng Trí Huệ ngay khi nó xuất hiện,

Mà lưỡng lự, thì mất công đức, 

Đời người như bóng chim qua cầu,

Nên chỉ có một thời gian ngắn để hành đạo,

Nếu không hiền thân người quý báu này khi mình đang có

Vì bậc thầy chỉ xuất hiện trong một lúc

Nên chỉ có một khoảnh khắc để nhập môn những giáo lý bí mật,

Không hiến giáo lý vào lúc mình có

Mà trì hoãn, thì chướng ngại gia tăng”.

Bên trong mỗi cạnh, cửa phòng tham thiền là mệt vị môn thần, ở giữa mandala này là vị Nữ Hành Giả Kim Cương đúng trong một ngọn lửa chói lọi tới nỗi hầu như không thể nhìn vào được.

(Những gì Tsogyel trông thấy trong các tịnh thổ mênh mông khác được ghi chép ở những sách khác? Các lời tường thuật này nhiều tới mức làm cho tôi sững sờ và không thể đưa vào quyển sách này được).

Khi Guru Rinpoche đến thăm ta lần nữa, ta nói về các linh thị mà mình đã kinh nghiệm rồi thỉnh cầu ngài: “Con muốn thực hành loại khổ luyện đó. Xin ngài chấp nhận lời nguyện của con được hy sinh như vậy”.

Đức Đạo sư Tôn Quý trả lời: “Tất cả những gì con trông thấy chỉ là những hình ảnh tượng trưng. Lúc này con không cần thiết phải hiến máu thịt thật sự. Tốt hơn là nên thực hành các pháp khổ tu mà ta sẽ nói sau đây”.

“Nghe đây, như thần Tsogyelma

Hãy chú ý nghe, người đàn bà quyến rũ!

Người nào có thân người bằng vàng quý báu này,

Mà thực hành thiền định thì luôn luôn no đủ,

Trong khi người không biết thiền định chịu đói,

Và nếu không nắm cơ hội thì chết đói,

Hãy thực hiện lời nguyện thực hành tám pháp khổ tu lớn này.  

Khổ tu về thực phẩm: sống bằng tinh chất của đất đá,

Rút tinh túy của thảo mộc và ân khí trời.

Khổ tu về y phục: mặc áo vải với đồ trang sức bằng xương,

Rồi khỏa thân, dựa vào sức nóng huyền bí.

Khổ tu về khẩu: niệm chú và quán tưởng

Hát những bài cầu nguyện, bài ca, bài nghi thức, thực hành thần chú và tập thở,

Rồi tịnh khẩu, bỏ thói nói chuyện phiếm.

Khổ tu về thân: phục lạy và đi nhiễu quanh

Yoga thân thể, và tọa thiền trong thế hoa sen.

Khổ tu về ý: tập thiền quán tưởng và thiền thành tựu,

Tạo tinh chất hoan lạc tính không và trụ trong đại định hợp nhất.

Khổ tu về giáo pháp: mang ngọn đuốc Phật pháp,

Duy trì truyền pháp, hoàn thiện thuật hóa độ chúng sinh,

Tập khả năng biện luận và viết văn.

Khổ tu về từ bi: quý trọng người khác hơn bản thân,

Đối xử kẻ thù địch như con của mình, coi vàng và phân như nhau.

Khổ tu về việc thiện: không quan tâm tới thể xác hay đời sống

Phát nguyện đại thừa phụng – sự người khác với tính cách vô vị kỷ

Nếu thực hành pháp khổ tu này, con sẽ hợp nhất với Đức Phật và giáo lý của Ngài,

Đạt đại lạc huyền diệu vô thượng

Nếu không thực hành những pháp này mà theo lối khố tu tự hủy hoại,

Thì như vậy không khác gì bọn cuồng tín, cực đoan

Hỡi Con Gái Xứ Kharchen, hãy ghi nhớ lời dạy của ta!”

Thế là ta phát nguyện thực hành tâm pháp khổ tu mà Đại Sư đã dạy:

“Giáo lý của Đức Phật đã tới miền đất hung bạo này,

Một ngọn đèn bằng thạch anh lửa chiếu sáng đã đến xứ tối tăm này.

Đức Orgyen đã tới Tây Tạng, xứ của loài la sát.

Ngài đã truyền dạy giáo lý đại thừa thiêng liêng cho những người bất an

Ngài hóa độ kẻ nghèo khổ thành người có phước

Con chưa hề được nghe pháp nào như thế này,

Cả khi Đức Phật sống ở Vajrasaha (Kim Cương Tọa, tức Bồ Đề Đạo Tràng)

Con không thể nào đền đáp được lòng từ bi của đại Sư,

Nay con, Yeshe Tsogyel, một người đàn bà

Đã nhập mandala giáo lý bí mật nhất,

Con sẽ chịu chết nếu không hoàn tất được lời nguyện

Thêm nữa, không quan tâm tới thân xác, đời sống hay đẳng cấp,

Chỉ mong cầu lời dạy của Đại Sư,

Thực hành tám pháp khổ tu,

Con sẽ chịu chết nếu bị vi phạm lời nguyện thiêng liêng này, bất cứ cách nào.

Dù có chuyện gì xảy ra, con cũng thề thực hành tất cả,

Các pháp khổ tu thân, khẩu, ý,

Các pháp khổ tu thực phẩm, ăn uống, y phục,

Pháp khổ tu về Phật Pháp và về lợi ích chúng sinh,

Và pháp khổ tu về từ bi, quý trọng người khác hơn mình”.

Ta phát lời nguyện thực hành tám pháp khổ tu lớn này ba lần. Đức Đại Sư rất vui vẻ, và sau khi khuyên nhủ cũng như tiết lộ một số điều có tính cách tiên tri, ngài trở về để tiếp tục làm công việc đạo sĩ cho Hoàng Đế.

Trước hết ta thực hành pháp khổ tu về y phục bằng sức nóng huyền bí. Trên đỉnh núi Tidro, ở chỗ tiếp giáp của đá sỏi và băng tuyết, chỉ với một mảnh vải trên người ta hành thiền trong một năm. Lúc đầu hơi ấm của lửa tam muội không phát sinh trong ta, và ta thấy khó có thể chịu nỗi sương tuyết cùng với làn gió lạnh như cắt da của năm mới đang thổi quanh ta. Không sao chịu đựng nổi, Atsara Sale từ giã ta, đi tới chỗ Đại Sư để hầu hạ ngài. Với lời nguyện của mình làm chứng, ta tiếp tục hành thiền. Toàn thân ta là những nốt sưng phồng, trong người ta là những cơn đau quặn, ta nấc không ngừng và đi gần tới cái chết. Rồi ta cầu nguyện Đức Đại Sư:

“Qrgyen, Vị Thầy của Chân Lý, Chúa Tể của Muôn Loài,

Mặt trời từ bi, hãy soi sáng tôi

Đứa con gái cô đơn không y phục, không bạn bè nào,

Trong cái nhà bằng đá mời gọi gió, tuyết, sương.

Con là đứa con gái nước đổ khi bão tuyết thổi.

Lạnh cóng giữa bốn phiến đá làm giường và mái hang,

Quên hết mọi hoạt động, ngồi như một đống đất đá,

Nơi đây không có bên ngoài, bên trong hay ở giữa,

Con không phải là Dãkinĩ Áo Vải Trắng (Dãkinĩ của Tumo, lửa tam muội)

Với lòng từ bi như ánh mặt trời

Xin ban ơn cho con. Giúp con đốt lửa tam muội”.

Từ một hơi thở nhẹ do nghiệp lực, hơi ấm của sức nóng huyền bí phát sinh trong ta. Càng, vững tin hơn vào Đức Đại sư, ta cất tiếng ca:

“Khi vị Thầy chân chính đã ban

Thuốc bổ đầy ơn phước

Là các giáo lý bí mật của Kim Cương Thừa,

Thì Trí Huệ Kim Cương Tát Đỏa (Vajrasatva), BENZA SATTOA

Bốn hoan lạc, phát sinh trong con.

Dãkinĩ Áo Vải Trắng ngự vào đúng chỗ      

Cho con hơi ấm an lạc,

Nhưng con vẫn xin ngài ban ơn”.

Ngay lúc đói, Lama Orgyen hiện ra trong linh thị như một Heruka, ban cho ta một chén sọ đựng rượu trắng “chung” để uống rồi biến đi như một giấc mộng;

Ta ca tụng: “Trong linh thị thường tồn này, hoan lạc, của con là hoan lạc thật, hơi ấm là hơi ấm thật, và sự sung sướng là niềm vui đạo lý”.

Lớp da sưng phồng của ta bong ra như rắn lột da. Ta nghĩ đây là lúc tốt để thực hành khổ tu về đồ trang sức bằng xương, ta bỏ mảnh áo khoác bằng vải rồi đeo lên người các mảnh xương. Trong năm đó ta thực hành hạnh khổ tu gọi là “ba giáo lý trong một”. Suốt thời gian này, ta không có gì để ăn, dù chỉ một hạt gạo, mà chỉ uống nước và ăn đá để tiếp tục hành thiền. Sau một thời gian, trí huệ mà ta có trước kia đã giảm sút. Hai chân của ta không đỡ nổi thân, thân không đỡ nổi đầu, hơi thở ngừng lại,và tâm trí của ta hình như đã suy nhược hẳn đi. Tình trạng của ta mỗi lúc mỗi xấu hơn, và rốt cuộc khi thấy mình sắp chết, ta cầu nguyện với Lama của ta, từ đáy tim ta cầu khẩn vị Yidam, và quán tưởng mình dâng một dòng lễ vật vô tận lên vị Dãkinĩ:

“Ngay từ đầu, thân của con đã được dâng cho ngài,

Thưa Lama, ngài biết những vui buồn của nó.

Ngay từ đầu, khẩu của con đã đi theo Phật Pháp,

Thưa Lama, ngài biết dòng hơi thở của con tạo những gì

Ngay từ đầu, ý của con thiên về đạo hạnh,

Thưa Lama, ngài biết đức hạnh và tội lỗi của nó, ngay từ đầu thân xác này là thành trì của vị Yidam. Thưa Lama, ngài biết tính chất và chỗ ở của vị thần

Ngay từ đầu, kinh mạch và dòng tinh lực là đường đi của Dãkinĩ,

Thưa Lama, ngài biết dòng này tạo cái gì.

Ngay từ đầu, tinh chất là tính chất của các đấng Thiện Thệ,

Con nên nhập Niết bàn hay quay bánh xe pháp?

Thưa các bà mẹ của con, hãy nhìn sự điên loạn của chúng sinh

Bất cứ cái gì xuất hiện trong luân hồi hay niết bàn cũng là một dấu hiệu thích hợp cho con”.

Thế là trong linh thị ta thấy một người đàn bà màu đỏ, khỏa thân, cả những đồ trang sức bằng xương cũng không có; người đó đưa ‘‘bhaga” (“bầu trời”, tượng trưng chén sọ) của mình vào miệng để ta uống những dòng máu chảy tràn trề của bà (tượng chưng tinh túy của Dãkinĩ, mang lại Trí Huệ về Tính Không). Toàn thân ta trở nên mạnh khỏe, sảng khoái, ta thấy mình mạnh như sư tử tuyết, và ta hiểu đại định chính là sự thật bất khả thuyết.

Ta quyết định đã tới lúc không dùng y phục và chỉ sống bằng khí trời. Thêm một năm nữa ta hành thiền khỏa thân và dùng hơi thở làm thực phẩm. Lúc đầu hơi thở của ta dễ dàng, và có nhiều chứng nghiệm về thị kiến rõ rệt xuất hiện do Trí Huệ hóa hiện một cách vô ngại. Về sau tạ cảm thấy nghi ngờ và vì vậy gây ra chướng ngại. Hơi thở của ta ngừng lại, cổ họng khô khan, mũi nghẹt như bị nhồi bông, bụng của ta đau nhói và ruột của ta quắt lại. Dường như ta sắp chết. Nhưng lấy can đảm, huy động toàn bộ sự sống còn lại, ta hát bài này để tự khuyến khích mình kiên trì, rồi mời gọi Guru Rinpoche từ nơi xa:

“Đứa con gái này, từ cõi vĩnh cửu mang thân người lang thang trong luân hồi,

Quay trên bánh xe sinh tử,

Đau khổ trong các cõi thấp,

Chịu nóng, lạnh, đói, khát,

Lao lực như con vật.

Bây giờ tinh túy của đời người có ý nghĩa,

Con đường thẳng tắt của giáo lý bí mật,

Phải được vượt qua nhanh bằng khổ tu,

Vì vậy hãy chịu đựng tất cả,

Vì không có gì khác để làm.

Chết không phải là một phương cách.

Hãy can đảm, Tsogyel! KYEMAHO!

Hóa thân sinh ra trên nhị hoa sen,

Vị Lama hóa hiện tự nhiên, Hiền Giả xứ Orgyen,

Đấng Từ Bi trong thân người,

Mandala cầu vồng, thân kim cương tối thượng,

Xin từ bi để mắt tới người mang xác thân,

Cứu đứa con gái này với thân phàm trần,

Xin hãy làm theo ý ngài với kẻ phàm tục này.

Dù ngài ở đâu cũng xin ngài từ bi đoái hoài đến con”

Tức khắc Vị Thầy hiện ra trong một quả cầu ánh sáng, đứng trên không trung ngang tầm mắt ta, tươi cười khuyên nhủ:

“Nghe đây, Con Gái xứ Kharchen,

Công chúa, mê say với chính sắc đẹp và hoan lạc của mình,    

Không quen chịu đựng với hoàn cảnh khó khăn,

Bây giờ là lúc dùng cả sung sướng lẫn đau khổ làm đạo pháp

Chuyển bất cứ đau khổ nào xuất hiện thành pháp đại lạc.

Bớt mong cầu đời sống dễ chịu, hỡi người phối ngẫu đức hạnh, trung thành.

Nghe đây, Con gái Kharchen,

Vợ của Vua, trẻ trung và tự mãn,

Quen lối sống tùy hứng và tự ý,

Bây giờ là lúc từ bỏ thói phóng túng phù phiếm

Hãy quán tưởng tính vô thường, nghĩ tớị đau khổ của các cõi thấp,

Và hãy bớt tham vọng, hỡi người phối ngẫu đức hạnh, trung thành.

Nghe đây, Con Gái Kharchen,

Người phối ngẫu của Lama, đầy kiêu ngạo,

Quen coi mình là siêu đẳng,

Bây giờ là lúc nhận ra lỗi của mình

Đừng dấu những lỗi tiềm ẩn, hãy để lộ những khuyết điểm của mình

Và hãy bớt háo danh, hỡi người phối ngẫu đức hạnh trung thành

Nghe đây, Con Gái Kharchen

Nữ tu sĩ giả đạo đức

Quen thói giả dối,

Bây giờ là lúc liệng bỏ đạo đức giả.

Phô bày con người thật của mình, hãy can đảm,

Và bớt khoe khoang, hỡi người phối ngẫu đức hạnh trung thành”.

Đức Guru hạ xuống đất ngồi trên một tảng đá rồi nói tiếp: “Con quả là khắc kỷ và quá sôi nổi trong tu tập. Con nên dùng các loại dược thảo để kích thích tâm trí và phục hồi sức khỏe. Hiện giờ ta không thể làm gì hơn cho chúng sinh ở đây. Ta còn phải cất dấu những bảo tạng nhiều vô tận gồm các giáo lý bí mật (terma) để người đời sau tìm lại, chừng nào vẫn còn chúng sinh luân hồi? Sau đó ta phải trở lại Ngayab, tới xứ Dãkinĩ. Tsogyel, con sẽ là người bảo hộ những bảo tạng sâu xa này. Trong tương lai gần, sau khi ta đã tiết lộ cho con thêm nhiều mandala của Mật Giáo, lúc đó con sẽ thành đạo vì lợi ích của người khác. Vậy con hãy sửa soạn cho lúc đó. Sau khi chỉ dẫn thêm cho ta, ngài ra đi.

Ta đưa Atsara Sale và một cô gái tên là DeWamo tới Senge Dzong Sum ở xứ Bhutan, nơi chúng ta hành thiền. Khi tới Senge Dzong, ta rút tinh túy (hay cam lồ) của các loại dược thảo để dùng trong việc chuyển hóa thân tâm. Sau đó ta rút tinh túy của các loài kim thạch. Khi nhận thấy chất “chongshi” là “tinh chất của các loại đá, ta dùng chất này trong khi tiếp tục việc chuyển hóa thân tâm. Rồi thân thể của ta trở thành kim cương bất hoại, gươm giáo không thể xuyên qua được. Giọng nói của ta biển đổi và giống như giọng của Brahma, khiến cho một con cọp cái hung dữ khi nghe thấy cũng phải hóa ra hiền lành, dễ dạy. Tâm trí của ta trụ trong đại định và giống như một viên kim cương siêu vật chất.

Rồi với mục đích cao thượng ta nghĩ rằng đã tới lúc mình thực hành pháp khổ tu thuần túy nhất. Trước hết, để thanh lọc những ô trược về khẩu của mình, ta thực hành pháp “tiếp cận và đồng hóa”. Bằng niệm chú và quán tưởng, vị thần được cầu sẽ tới, bằng thiền quán về Tính Không của vị thần ta đạt sự hợp nhất với vị thần đó. Và khi hành các nghi thức không ngừng, ta niệm thần chú trong một dòng âm thanh liên tục. Trước hết ta niệm thần chú ngắn và các thần chú dài (dharani), như Thần Chú Một Trăm Chữ của Vajrasattva, (Kim Cương Tát Đỏa). Sám hối bằng cách hành ba loại “kriyayoga tantra” nghi quỹ Du già hành động. Sau đó ta niệm thần chú dài là các mandala của “upayoga tantra” và “yoga tantra”, như các thần chú của Năm Phương Diện Phật và Ba Phương Diện Thân, Khẩu, Ý (Kim Cương Thủ, Quán Thế Âm, Văn Thù là ba Bồ Tát bảo hộ ba cửa này). Sau rốt, ta dũng mãnh hành trì tới tận cùng, ta tụng các bài sám nguyện trong kinh tạng, các giới điều trong luật tạng, các pháp A Di Đà và các luận thư về ngôn ngữ và luận lý học trong luận tạng để trau dồi trí năng.

Lúc đầu, ta bị nói lắp, máu và mủ rỉ ra từ một chỗ đứt ở cổ, cổ họng ta xoắn lại khô và tê liệt và có nhiều chỗ máu mủ sưng tấy. Ta gần chết, nhưng rồi có thể đọc tụng nhiều mà không có sự khó chịu nào cả, âm giọng rõ ràng, và nghe thật hay. Ta kiểm soát hoàn toàn cách phát âm khi nói to hay thì thầm, nói chậm rãi, bình thường, hay nói nhanh. Tóm lại, ta được phú cho sáu mươi cách nói, và đạt bảy sự hỗ trợ trí nhớ.

Sau đó, hành theo pháp mahayoga (đại du già), ta trình bày mandata Thành Tựu Siêu Diệu Tám Vị Thần Lớn. Tạ vừa niệm chú vừa quán tưởng cho tới khi tất cả các vị thần này đến với sắc tướng, và rồi nhập định trong Tính Không, ta tiếp tục cho tới khi hợp nhất với các vị này. Ngồi tư thế kiết già, trước hết khi các vị thần xuất hiện, nhiều ấn chứng phát sinh trong tâm trí ta như ánh sáng chói và nhiều loại khác. Thứ nhì là ta được vị Yidam hướng dẫn bằng linh ảnh và cho phép, đạt tám quyền năng thế gian như thần túc thông, tiên tri, và ta thực hiện đại định cấp Bồ Tát kiên cố như kim cương (kim cương định). Sau cùng, linh ảnh cho ta thấy rằng ta sẽ nhập vào thai tạng của Kuntuzangmo.

Ở giai đoạn thứ ba, ta mở mandata Hợp Nhất Với Tâm Lama theo pháp “lung anuyoga”. Nhờ tôi luyện bằng thần chú, kiểm soát tinh lực, và đại định, ta lập các mandala Hợp Nhất Tâm ở các luân xa, và do vì đã thoát ly mọi ý niệm nhị nguyện, ta thấu triệt thực tính của tinh chất, dòng tinh lực, và kinh mạch. Lúc đầu thần kinh của ta đau nhức, tinh lực chảy ngược và tinh chất tê liệt, ta bị ám ảnh bởi cái chết, nhưng rồi lại quên những chướng ngại này và tiếp tục hành trì. Sau khi các vị thần xuất hiện, ta kiểm soát được tinh chất, tinh lực và kinh mạch; bốn dòng sinh, lão, bệnh, tử được ngăn chặn, thế là ta đạt danh hiệu “Siddha”(Thành Tựu Giả).

Chợt nghĩ rằng mình không có gì để đền đáp lòng từ bi, của Guru Rinpoche, nên ta cất tiếng ca như sau:

“Đức Đại Sư Liên Hoa Sanh, con đảnh lễ ngài

Đống cát bụi này vốn đã tích tụ từ thời vô thủy,

Ngài đã chuyển hóa thành Núi Thiêng

Nay núi tâm này sẽ phụng sự người khác

Indra đức hạnh, hãy tới đây làm chủ đời con!

Để những người vô phước ở vùng thung lũng

được trở thành những vị Vua Lớn,

Và các cõi trời đều mãn nguyện

Biển của những giọt nước tích tụ từ thời vô thủy này,

Đã được ngài biến thành Bảy Hồ An Lạc,

Nay Đức Bà Hồ Nước này sẽ phụng sự tha nhân.

Ananda đức hạnh, hãy tới đây làm rắn thần chủ của con!

Để cho cá, tôm, ếch, nhái vô phước trong ao đầm được như tám Vua Naga Lớn (Long Vương).

Và các cõi naga sẽ mãn nguyện

Munindra này với đầy công đức tích lũy từ thời vô thủy,

Đã được ngài mang phẩm tính nhiều vô tận,

Nay Munindra này sẽ phụng sự người khác.

Chúa của Loài Người, Đại Vương, hãy tới đây làm chủ đời con!

Để cho bọn la sát vô phước được như các tu sĩ

Và cả thế gian mãn nguyện.

Phần thưởng công đức tích lũy từ thời vô thủy

Ngài đã chuyển thành thân người quý báu này,

Này đứa con gái này sẽ phụng sự mọi người,

Các đệ tử may mắn, hãy tới đây làm chủ ta!

Những người cứng đầu, tội lỗi, toàn xứ này sẽ mãn nguyện”.

Hát xong những lời tạ ơn Đức Đại Sư như lời nguyện phụng sự vô vị kỷ, ta rút và dùng một trăm lẻ tám tinh chất dược thảo và các loài khác. Bốn Đại Thánh xuất hiện cùng với bốn trăm lẻ tám nữ thần dược liệu, mỗi vị Cầm một bình một loại thần dược khác nhau, và họ hát những lời sau đây để ca tụng ta:

“KYEMAHO!

Người con gái đã khám phá Tối Thượng, Huyền Diệu,

Trước kia là Nữ thần của chúng ta, chị của chúng ta,

Do ý nguyện khôn ngoan đã đạt trí huệ lớn,

Dẫn đầu các nhạc công cõi trời với tiếng đàn của mình,

Chúng ta tôn thờ người như Nữ Thần Sarasvati.

Sau đó, khi Munindra quay bánh xe pháp,

Người phát nguyện tinh tuyền trở thành đệ tử, một tỳ khưu ni,

Hướng dẫn chúng sinh với mắt từ bi của mình,

Chúng ta tôn thờ người như Nữ Thần Ganga Devi,

Nay, khi Vajradhara hóa hiện thành Liên Hoa Sanh,

Vị kim cương sư đang Quay bánh xe pháp,

Người mở cánh cửa các bí mật và thọ nhận các giáo lý đại thừa,

Chúng ta ca tụng người, ẩn sĩ Tsogy, khổ luyện vì lợi ích chúng sinh.

Vạn vật bừng dậy trọng tâm bao la của người,

Rút tinh túy của thuốc chữa bệnh cũng như thuốc độc, người hưởng thuốc trường sinh.

Người có đủ các tướng hảo trên thân thể trẻ trung, bất tử.

Chúng ta tôn thờ người, mẹ của chúng sinh quá khứ, hiện tại, vị lai.

Tự nuôi mình bằng cam lộ bất tử,

Người là nguồn của mọi phẩm tính Chư Phật, Nữ Thần Dược Sư.

Tsogyel, người là hiện thân của mọi hình tướng này”.

Do trùng hợp của sự kiện bên ngoài và nhu cầu bên trong, một người con gái tên là Khyidren đến thăm và dâng cho ta nhiều mật ong. Sau khi dùng mật ong, ta bắt đầu thực hành khổ tu về thể xác. Ta tập đi nhiễu quanh, và sau đó, không nghĩ hay nghĩ tới ngày và đêm đang trôi qua, ta tập phục lạy. Nhưng những vết nứt trên trán ta đã để lộ xương, những vết đứt ở lòng bàn chân và lòng bàn tay cũng vậy, và những vết thương này chảy ra máu và mủ. Ta vẫn tiếp tục hành vô số các pháp thanh lọc thân thể (phần lớn các pháp này được trình bày trong các sách hưỡng dẫn). Lúc đầu, thân xác ta mệt mỏi, kiệt sức.

Rồi tinh chất ở các khớp tay chân trở thành bạch huyết, và vì bị nóng, đau, trật rồi sưng lên, gân cốt của ta rã rời, các bắp tay nhão đi, thân thể của ta không còn sinh lực. Nhưng sau khi tinh chất độc hại tách ra khỏi tinh chất trong sạch thì tâm thức của ta mở rộng, tinh chất của ta vĩnh viễn trở thành tính chất Trí Huệ, gân và các kinh mạch của ta được thông suốt, căng ra chứ không chùng nữa và mạnh khỏe hơn, những chỗ mòn được phục hồi, những chỗ đứt hay nứt được lành lặn trở lại. Như vậy: ta đã thiết lập được nền tảng cho việc thành tựu Mật Giáo.

Sau đó trong hang tham thiền Nering Senge Dzong cô quạnh và ở nhiều nơi khác, sau khi phát nguyện bất thoái chuyển, ta tiếp tục khổ tu về thân thể. Ta nhập đại định ngồi bất động trong tư thế hoa sen, hai mắt nhìn không nháy. Nhưng các quỷ thần tinh quái của vùng đó không chịu nổi việc ta đạt thành tựu trong đại định, họ tạo ảo giác dọa ta bằng những bóng ma hay quỷ nhập xác, vừa dụ dỗ lẫn đe dọa hung dữ. Họ tự biến thành những món ăn ngon lành liên tiếp xuất hiện trước mặt ta, sau đó họ lại biến thành đủ thứ y phục, ngựa, bò, và mọi vật dụng cần thiết hay xa xỉ của thế gian. Nhưng ta vượt qua được tất cả các cám dỗ này bằng hào quang của đại định. Ta đã hiểu thấu tính chất giả ảo của thế gian nên khi ta cảm thấy ghê tởm sự bám giữ vào vật chất, thì một số bóng ma này biến mất. Một số khác không còn vẻ hấp dẫn khi ta dùng định lực biến đất đá thành phân, và một số đồ vật ma quái này cũng tan biến đi khi ta ước chúng sẽ trở thành những thực phẩm và của cải dành cho địa phương.

Có lần ma quỷ biến thành những thanh niên đẹp trai, tỏa mùi thơm cùng dục vọng, có thân thể khỏe mạnh, hạng người mà các cô gái chỉ mới ngó thấy đã ham muốn rồi. Mới đầu họ thăm hỏi ta một cách kính cẩn, nhưng dần dần suồng sã hơn, họ kể những chuyện bậy bạ và nói những lời thô tục. Họ phô bày bộ phận sinh dục rồi thì thầm với ta: “Khoái cái này không em?” hay: “Có muốn cho anh bú sữa không cưng?”, toàn những câu gạ gẫm như vậy trong khi họ vuốt ve ngực, rờ chỗ kín của ta, hôn ta, làm đủ trò thuộc loại đó. Nhưng lực tam muội của ta làm cho một số trong bọn họ biến đi tức khắc; một số bị ta biến thành những vật nhỏ mọn bằng trí huệ nhìn thấu sự giả ảo của sắc tướng. Bằng lực chấn động Bồ Tát ta biến một số ma quỷ khác thành những xác chết đen đủi những lão già bạc nhược, còng lưng, những người cùi hủi, người mù lòa, hay những sinh vật dị dạng, câm điếc, xấu xí, rốt cuộc, lũ ma quỷ này biến đi tất cả.

Nhưng các quỷ thần quái ác vẫn tìm cách phá phách và lần này bằng phương cách bạo động. Chúng làm cho đất dưới chân ta rung chuyển, phát ra tiếng nổ lớn hơn tiếng rống của một ngàn con rồng, với tiếng động của tia chớp đen, tiếng gầm của tia chớp trắng, tiếng rít của tia chớp đỏ, tiếng dật của tia chớp vàng, tiếng rú của tia chớp xanh, ánh lập lòe của tia chớp ngũ sắc, và ánh sáng chói chang của bầu trời. Chúng còn hóa hiện các loại vũ khí để dọa ta như đao, dao găm, dao nhọn, bóng loáng màu thép xanh, tua tủa trước mặt ta như đang tranh nhau chỗ đứng. Ta hóa giải những hình ảnh ma quái này bằng định lực trấn an.

Một hôm, từng đàn thú dữ tợn hiện ra vây quanh ta. Cọp, beo, gấu, người tuyết Yeti và các loài thú khác gầm rú ở bên trên và ở bên ngoài cửa hang. Từ bên trái, bên phải, chúng tấn công từ mọi hướng, gầm thét với những cái mõm há hốc mệt cách đói khát, nhe răng hung dữ, quật đuôi và cào mặt đất đe dọa ta, lắc mình lông trên thận và trên cổ dựng đứng. Do đã bỏ được tính chấp thủ vào thân mình và tính vị kỷ, ta vẫn bình tĩnh phát tâm từ bi với các con vật đó, và chúng biến đi hết. Nhưng ta vẫn chưa được nghỉ ngơi, vì một đạo binh gồm hàng tỷ con côn trùng được dẫn đầu bởi nhện, bò cạp, rắn, tràn ngập khắp vùng. Chúng chui vào thất khiếu của ta cắn, đốt, cào, bò lên người ta, nhảy lên thân thể ta, chúng còn đánh lẫn nhau, ăn thịt nhau, để lại những đống xác rải rác khắp nơi. Các con vật nhỏ này làm đủ mọi trò để dọa ta, ta rùng mình một chút, và cảm thấy thương hại chúng, nhưng chúng càng lộ vẻ đáng kinh tởm hơn nên ta nghĩ: “Mình đã nguyện không chấp giữ một loại thân, khẩu, ý nào, vậy bây giờ tại sao mình lại phải sờ những trò ảo thuật của ma quỷ này, và đây chỉ là hoạt động của loài côn trùng, những sinh linh trong cõi luân hồi? Vì mọi hành vi được quyết định bởi các ý nghĩ tốt hay xấu, mình nên hiểu rằng bất cứ chuyện gì xảy ra, dù tốt hay xấu, cũng là do tâm tạo, vì vậy hãy bình tĩnh”, nghĩ vậy rồi, ta cảm thấy an tâm, và cất tiếng hát.

“Vạn pháp chỉ là ảo ảnh của tâm,

Ta không thấy gì đáng sợ trong chân không.

Đây chỉ là sự phóng chiếu tự nhiên của tịnh quang,

Không việc gì phải phản ứng.

Vì mọi hoạt động chỉ là đồ trang sức,

Ta nên an trú trong đại định an tĩnh”.

Hát xong, ta nhập vào chân không định, trong đó: không có gì phải phân biệt hay đánh giá, và mọi ảo ảnh điều biến đi cả.

Nhưng một lần nữa các loại hình dạng lại xuất hiện. Những cánh tay cẳng chân không thân mình lơ lửng trong không khí trước mặt ta. Nhiều vật cực kỳ quái đản lóe lên rồi biến đi, hoặc uốn éo theo những hình kinh dị trong không trung. Một cái đầu khổng lồ không có thân, hàm trên khuất sau những đám mây, hàm dưới tựa trên mặt đất, cái lưỡi lè ra ở giữa với mấy cái răng nanh trắng nhỡn, mỗi lúc mỗi gần ta hơn. Nhiều hình ảnh dữ dội khác cũng xuất hiện, như trong một tòa lâu đài nhỏ cỡ hạt cải nhiều người đang đánh lộn với nhau, hay lửa bốc cháy, nước lục, đất trượt, cây đổ, gió bão, và nhiều ảo ảnh khác, nhưng ta vẫn ngồi bất động trong kim cương định. Thế rồi các hình đó cũng tan biến đi.

Bỗng có tiếng nói vang lên: “Chúng ta là quỷ thần Khatra và Kangtra ở các xứ miền nam ở giữa E của Nepal và Ja của Bhutan”. Bọn này doạ ta bằng đủ thứ âm thanh: tiếng khóc, tiếng gầm gừ, tiếng kêu than, và tiếng rú. Rồi sấm chớp đánh xuống, lửa bốc lên, và ở giữa là những dòng sông chảy ngược. Một cơn bão các loại võ khí xoáy quanh ta. Chúng muốn cản trở việc hành thiền của ta, nhưng với trí huệ đầy đủ và ý thức phát triển, kinh mạch lưu thông, đạt niềm tin kiên cố, ta cất tiếng ca:

“Từ khi ta nhập pháp giới,

Đạt đến Tâm Đại Mẫu, pháp thân,

Tâm điểm của mười hạnh tốt,

Đạt trí huệ hoàn hảo và sâu xa.

Hình ảnh không thể đe dọa được ta,

Mỗi cảnh là một sự hóa hiện của pháp thân,

Những ảo ảnh vốn là lòng từ bi của Đức Lama

Đang khêu gợi trí quán tưởng của ta nhiều hơn!

Từ khi ta nhập cõi tự tại,

Đạt Tâm Lama Kunzang (Vajradhara),

Tâm điểm của Thị Kiến, Thiền Định, và Thành Tựu,

Chứng nghiệm tính chất tự nhiên của mọi sự,

Ta không sợ đối diện với các hình tư tưởng của mình.

Mọi sự vật do tâm hóa hiện,

Các hình tư tưởng vốn phát xuất ở tâm từ bi của Đức Lama.

Nay kích thích trí sáng tạo của ta nhiều hơn!

Từ khi ta nhập cõi đại lạc,

Đạt Tâm Đại Sư Liên Hoa Sanh

Tâm điểm của pháp Ati bao quát,

Chứng ngộ bản chất vô nhiễm của tâm

Ta không còn phân biệt tịnh với bất tịnh

Trong hỗn tạp của những ô trược là chân lý.

Các ảo ảnh vốn là lòng từ bi của Đức Lama,

Nay gây cảm hứng nhiều hơn cho trí quán tưởng của ta!

Từ khi ta nhập môn tu tập,

Đạt tâm điểm của bí mật đại thừa,

Hưởng hương vị đồng nhất của sung sướng và đau khổ,

Ta không phân biệt tốt và xấu.

Vì tốt lẫn xấu đều đưa ta tới chứng nghiệm tối thượng,

Tới kinh nghiệm các ảo ảnh vốn là tâm từ bi của Đức Lama,

Nay kích thích tiềm năng sáng tạo của ta thêm nhiều hơn!”.

Khi ta ca xong, hàng đoàn quỷ thần của Ấn Độ, Nepal, và Tây Tạng lại xuất hiện. Với ba chúa quỷ đỏ, xanh và đen, chúng ra sức tạo các loại chướng ngại nhưng không thành công, vì vậy chúng dùng chính loài người để thử thách ta. Trước hết chúng hóa hiện một màn sương mù đen kịt bao phủ xứ Bhutan làm cho giữa ban ngày mà trời cũng tối sầm như đêm ba mươi, sấm chớp và mưa đá phá hủy đồng ruộng, bão tố nổi lên, bệnh dịch hoành hành cùng với những tai họa khác giáng xuống làm cho người dân xứ này rối ren.

Người ta hỏi nhau: “Vì đâu mà có các tai họa này? Ai muốn làm hại chúng ta?”.

Một người thợ săn Bhutan tình cờ trông thấy ta ở trong hang, mới nói với mọi người rằng: “Ở trong Hang Neing Drak có một người đàn bà Tây Tạng bị câm. Chắc chắn là tại người này mà chúng ta phải chịu tai họa”.

Mọi người đồng ý rồi kéo nhau đi lên hang tìm ta để giết. Họ la hét: “Thây ma chết đói Tây Tạng kia, người dùng tà thuật làm cho xứ Bhutan của chúng ta tối tăm như ban đêm. Sương mù bao phủ khắp nơi, sấm sét và mưa đá phá hủy đồng ruộng, lại còn bệnh dịch biết bao tai họa khác đổ lên đầu chúng ta. Hãy giải lời nguyền của ngươi đi! Nếu không, chúng ta giết chết ngươi tức khắc!”.

Ta nghĩ : “Những trò ma thuật của bọn quỷ thần đã làm hại người dân xứ này. Mình không thể làm gì để giúp họ. Vậy hãy xem nó do tâm mình tạo ra và sẽ thiền quán về điều đó. Dù có chuyện gì mình cũng sẽ không phạm giới nguyện”. Nên ta không trả lời, mà tiếp tục ngồi yên, hai mắt nhìn chằm chặp vào tâm của mình.

Các người đó nói với nhau: “Cô ta có tội nên sợ quá, không nhúc nhích nổi”, “Có lẽ cô ta không nghe thấy chúng ta”. Rồi họ liệng tro vô mắt ta, thọc dao vào tai ta, nhưng ta vẫn ngồi tại chỗ, hoàn toàn thản nhiên và vô niệm. Bỗng họ la lên: “Nó là người tuyết Yeti”. Thế là họ bắn những mũi tên hay dùng gậy đánh ta, đâm chém ta bằng giáo và dao. Nhưng dù dùng loại vũ khí nào, họ cũng không phạm vào thân thể ta được một chút nào cả. Rốt cuộc họ gọi ta là người Tây Tạng Bất Khả Xâm Phạm, và không biết làm gì khác hơn là giải tán, ai về nhà người nấy.

Cô gái mang mật ong trước kia lại tới tìm. Cô ta là công chúa xứ Bhutan giàu có, đầy thế lực. Do có lòng tin tưởng, cô phục lạy ta trước khi ra về. Từ đó, thỉnh thoảng lại mang sữa trâu hay mật ong, phụng sự mọi cách để làm vui lòng ta.

Sau đó không lâu, tất cả các quỷ thần đã từng dọa nạt ta bằng huyền thuật cũng cùng với các ma quỷ và naga rắn thần giờ đây tới quy phục với ta. Các quỷ địa phương và các naga tuyên thệ bảo hộ giáo pháp và hủy diệt kẻ địch của ta:

“EH HO HO!

Người Phối Ngẫu độc nhất của Guru Liên Hoa Sanh Chuỗi Sọ Đại Lạc.

Dãkinĩ Heruka, nữ anh hùng bất khả chiến bại,

Chúng tôi xin sám hối tội lỗi của mình.

Nay như những người theo hầu bà, chúng tôi giao mạng sống cho bà

Thành tâm thề nguyện tuân hành mọi mệnh lệnh của bà”.

Họ lần lượt giao phó sinh mạng cho ta rồi trở về cõi giới của mình”.

Các quỷ thần to lớn và hung dữ của Tây Tạng như Rahula, Dorje Lekpa và các vị thần khác cũng dâng sinh mạng và thề bảo vệ giáo pháp. Những người nam nữ trước, đây đã muốn làm hại ta đều lũ lượt đến thú tội và đảnh lễ ta. Đặc biệt là Vua Hamras của Bhutan tới thăm ta, lòng tràn đầy khâm phục và tin tưởng. Ta bảo ngài hãy dâng công chúa mười ba tuổi vì cô này hội đủ các tướng hảo của một Dăkinĩ, và có tên là Khyidren (Thủ Lãnh Của Chó). Với niềm tin và lòng tôn sùng, nhà Vua dâng con gái cho ta sau khi nhận là Tashi Chidren (Người Hướng Dẫn May Mắn của Loài Người), cô được ta đưa tới Paro Taktsang, Bhutan.

Ở Paro Tasktsang, ta bắt đầu thực hành pháp khổ tu cuối cùng. Đây là pháp “tinh chất phối hợp đại lạc với Tính Không”. Với các người phối ngẫu ta là Atsara Sale, một thanh niên Bhutan tên là Sale, và Atsara Pelyang, ba người này được tăng cường sức lực bằng các loại dược thảo, ta tập luyện để trưởng dưỡng phương tiện thiện xảo (cho việc đạt trí huệ) trọn vẹn tiềm năng của nó trong bảy tháng ngày, đêm không nghĩ. Lúc đầu thân thể ta run rẩy, yếu ớt, và tâm trí ta tê liệt, mê man. Bạch huyết đẫm toàn thân, bên trên và bên dưới; ta bị bệnh, đau, sốt, run rẩy và gần chết. Nhưng sau đó, toàn bộ bạch huyết biến thành tinh chất, đại lạc tràn ngập toàn thân ta, tuy mới đầu bị ô nhiễm bởi đam mê, nhưng rồi hóa thành Trí huệ và rốt cuộc là một dòng Trí Huệ không gián đoạn.

Tính chất đỏ và trắng dần dần hòa nhập thành một và tinh chất hỗn hợp đó không thể chuyển thành quan niệm nhị nguyên. Sau khi đặt trọn thân và tâm của ta vào mandala của Đấng Hàng Phục, bằng việc dâng hoan lạc, tiềm năng trọn vẹn của hoan lạc đã được kích thích và được trong thân đại lạc. Hào quang đồ bao phủ thân trắng của ta, và vẫn giữ hình dạng một cô gái mười sáu tuổi xinh đẹp, thân thể của ta biến thành thân thanh tịnh của một Heruka Dãkinĩ (Vajra Varahi). Cùng lúc đó ta có linh thị về mandala (tập hội chư thần) của Phật A Di Đà, và trong thân kim cương bất hoại ta thành tựu cấp Người Giữ Trí Huệ (trí giả, Vidhyadhara) bất tử, không bị già yếu. Lúc đó ta được tiên tri là sẽ sống 225 năm trên thế gian này; Hayagriva Vinh Quang và Vajra Varahi tiêu trừ các ma quỷ gây chướng ngại; Năm Daka và Năm Dãkinĩ phù trợ cùng đi theo ta như bóng theo hình và thi hành bất cứ việc biến hóa nào cần thiết một cách vô ngại. Các Bồ Tát ban ơn phước; và vì ta được coi là Người sở hữu Trí Huệ và quyền năng cai quản cuộc đời của mình nên ta còn có tên là Nữ Chủ Đời sống Xanh Da Trời Chiếu Sáng (Tsedak Tingwo Barma).

Sau đó ta và năm người đồng tu đi đến gặp Đại Sư Liên Hoa Sanh ở Womphu Taktsang. Khi tôi phủ phục lạy, ngài chào: Này Dãkinĩ Heruka! Vậy là con đã về. Thật bất ngờ biết bao! Ta cứ tưởng con đã nản chí tu tập!”. Đoạn ngài tiếp:

“Hỡi Yogini, người đã lão thông Mật Giáo,

Thân người là nền tảng đề thành tựu trí huệ.

Thể xác dù là nam hay nữ cũng đều thích hợp,

Đàn bà có chí nguyện lớn thì còn có nhiều khả năng hơn.

Từ thời vô thủy con đã tạo nhiều công đức và trí huệ,

Nay đã thanh tịnh, con đạt các phẩm tính của một vị Phật,

Hỡi người đàn bà siêu đẳng, con là một Bồ Tát mang thân người.

Người con gái hạnh phúc, ta đang nói về con, phải không?

Nay con đã giác ngộ,

Hãy hành động vì lợi lạc cho chúng sinh.

Một người đàn bà siêu diệu như con,

Chưa hề có mặt trên thế gian trước đây,

Không có trong quá khứ, hiện tại,

Hay tương lai, chắc chắn như vậy.

Yeshe Tsogyel, a la la!

Sau này, trong tương lai, vào cuối đời,

Con sẽ có năm hóa thân,

Và Phật Pháp sẽ tồn tại thêm ba mươi năm nữa

Đặc biệt là ở một nơi gọi là Lab của Xứ Dak (Tây Tạng) (18)

Sẽ xuất hiện một người phụ nữ tên là Drolma

Hấp thụ tinh túy giáo lý của Đại Mẫu,

Truyền bá Giáo Lý Zap – Chod, tức Đoạn Lìa Sắc Tướng,

Lời dạy của người đó sẽ tạo lợi ích lớn nhất cho chúng sinh.

Vào thời gian đó Atsara Sale sẽ xuất hiện như một tu sĩ tên là Topa,

Và như Người Phối Ngẫu của Dãkinĩ (Tsogyel), anh ta sẽ mở cánh của bí mật của con.

Cô gái người Bhutan, Tashi Khyidren, sẽ là con gái độc nhất của con.

Người con trai Bhutan, Sale, sẽ là đệ tử của con

Và sẽ hoạt động như một vị thánh khùng.

Atsara Pelyang sẽ là một tu sĩ tên là Drapa Ngoushe,

Và sau khi làm Người Phối Ngẫu của Dãkinĩ

Sẽ đạt thành tựu tối thượng của mình và người khác

Còn ta, Liên Hoa Sanh, sẽ là Dampa, người Ấn Độ (19)

Từ Lato tới, sẽ truyền dạy Giáo Lý An Tĩnh Zhi Je,

Sau khi con và ta đã gặp lại nhau,

Nhiều cơ duyên tốt cho Mật Giáo sẽ phát khởi.

Giáo Lý Zhi Je, đạo pháp sâu xa về phương tiện thiện xảo

Sẽ mang lại an ủi tạm thời cho thế gian.

Sau đó con sẽ không ở lại lâu,

Con và ta sẽ hợp nhất,

Để phụng sự chúng sinh bằng báo thân”.

Sau khi đã tiên tri như vậy, ngài nói thêm những lời để khuyến khích ta. Một lần nữa ta cất tiếng hát để tạ ơn:

“Vajradhara, Đấng Trì Thủ các Giáo Lý Bí Mật, Amitayus vô lượng thọ (Hiện Thân của Phật A Di Đà) vô sinh bất tử, Heruka, Vị Thầy huyền Thuật:

Ba vị này hợp nhất trong thân ngài Liên Hoa Sanh. Con chỉ nương tựa vào ngài, chứ không tìm ai khác. Nhờ lòng từ bi của ngài, Người Hướng Dẫn Tối Thượng, Mà con thành tựu Mật Giáo.

“Con đã đạt tám quyền năng huyền diệu lớn,

Trở thành vị thầy về cả kinh điển lẫn mật điển.

Con sinh ra thấp hèn nhưng công đức thì lớn.

Nay xác thân này đã chuyển hóa,

Tri thức phàm tục đã vĩnh viễn không còn

Đại định mà trong đó tất cả là ảo ảnh đã phát sinh,

Và con điều khiển năm nguyên tố (địa, thủy, hỏa, phong, không).     

Nay lời nói của con đã trở thành thần chú

Chuyện phiếm vô dụng đã trở thành quá khứ.

Kim cương định đã phát sinh,

Con trực nhận cái phương tiện của kinh điển và mật điền.

Nay tâm con đã trở thành Phật,

Các ý nghĩ phàm tục đã tan biến vào hư không.

Con đã nhập Bồ Tát định,

Tâm của con đã hợp nhất với Vajradhara.

Lòng từ bi của ngài thật rộng lớn, Đức Đại Sư!

Chừng nào còn thời gian, sắc tướng, tái sinh và đời sống,

Nếu con rời bỏ bàn chân hoa sen của ngài,

Con sẽ không bao giờ tìm được một vị thầy nào khác như ngài.

Xin đừng bao giờ thôi ban rải từ bi cho con.

Lòng đại từ của ngài con không bao giờ có thể đền đáp.

Nếu trong quá khứ, do không hiểu biết,

Con đã làm trái, dù chỉ một phần nhỏ,

Với Thân, Khẩu, Ý, Phẩm Tính, hay Hành Động của ngài,

Con xin nhận lỗi. Con hứa từ đây

Sẽ tránh làm điều trái, dù chỉ một chút,

Nay vì lợi ích chúng sinh, do lòng từ bi lớn của ngài,

Con xin ngài quay bánh xe giáo lý bí truyền”.

Ta tường thuật lại cho ngài biết chi tiết về việc tu thực hành các pháp khổ tu, việc tu đã thành tựu, việc quỷ thần và những người địa phương đã quấy phá ta, và đặc biệt là về chứng nghiệm của ta ở Paro Taktsang, trong đó ta thấy các vị thần mandala của Amitayus. Tỏ vẻ hài lòng, Đại Sư đặt bàn tay phải lên đầu ta: “Trong lúc này con được thực hành pháp Người Giữ Trí Huệ Bất Tử. Kinh nghiệm của con ở Paro Taktsang chỉ là một ấn chứng cho thấy với lòng từ bi của Đại Sư con đã hành trì như vậy thì rồi con sẽ đạt được một kết quả nào đó. Ta sẽ cho con nhập mandala của Amitayus, được điểm đạo truyền pháp, và rồi con phải tìm một người phối ngẫu hành động chính thức trong cuộc thực hành suốt đời này. Còn điều này nữa, cô gái người Bhutan Khyidren, có đủ tướng hảo của một Dãkinĩ Trí Huệ, một “Vajrakarmaki” (nữ thị giả kim cương), vậy nếu con dâng cô gái đó ta sẽ dùng cô ta làm người phối ngẫu trong Pháp Dorje Phurba (Dao Kim Cương). Nếu không như vậy, trong cái xứ Tây Tạng đáng chán này Mật Giáo sẽ trì trệ, các hành giả sẽ không bảo vệ được chính mạng sống của mình. Các quỷ thần ở khắp Tây Tạng chống đối việc truyền bá giáo lý: Mật Giáo sẽ gây chướng ngại, và dù giáo pháp có được ban rải thì rồi cũng sẽ suy thoái sớm”.

Ta phục lạy Đại Sư, và để tạ ơn, ta dâng lên ngài một khai vàng lục ngọc cùng với Tashi Khyidien, rồi thỉnh cầu ngài:

“Thưa Đại Sư, con cảm tạ ngài có ý định dạy con giáo lý bí mật về pháp Bất Tử, nhưng con cần phải có người phối ngẫu thuộc loại nào để làm phụ trợ trong pháp thực hành này? Atsara Sale có khả năng hay không? Ngài, đã quá rộng lượng trình bày mandala của pháp Doje Phurba cho con, vì vậy con dâng ngài cô gái Khyidren. Con xin khẩn cầu ngài ban rải từ bi và truyền pháp cho cô ta.

Hạng đàn bà hèn kém ít năng lực và dòng dõi thấp hèn như chúng con sẽ gây ra nhiều kình địch trong thế gian. Nếu chúng con có thực phẩm hay của cải thì bọn trộm cướp sẽ chiếm đoạt. Có nhan sắc thì bọn tà dâm sẽ quấy nhiễu. Đi khất thực thì mấy con chó làm dữ. Làm việc chăm chỉ thì bị người dân quê ganh tị. Không làm gì cả thì lại bị người ta nói xấu. Có thái độ không đúng đắn thì cả thế gian sẽ thù địch. Dù có làm được gì thì những người đàn bà tu hành như chúng con cũng phải chịu một số phận khốn khổ. Để được yên ổn là chuyện bất khả, ngay cả mạng sống của mình cũng khó bảo toàn. Vì vậy con xin ngài dạy cho con cả giáo lý bí mật Doje Phurba nữa”.

 Đức đại Sứ ngẫm nghĩ một hồi đáp:

“Có thể ví người thực hành Pháp Bất Tử với một viên tướng, còn Phurba là người hầu cần bảo vệ viên tướng đó. Dù pháp môn thực hành chính yếu của một hành giả là gì, thì việc tu tập Phurha Pháp Giảm trừ Chướng Ngại cũng rất quan trọng. Vị Yidam của con nên là Phurba, vậy ta sẽ điểm đạo cho con. Dù thực hành Phurba hay Pháp Bất Tử, con cũng cần phải có một người bạn đồng tu. Hãy đi tới xứ Uru ở miền trung Tây Tạng là nơi con sẽ gặp người con trai mười bốn tuổi thuộc giai cấp “candala” (hạ tiện) có tên của cha là Lhapel và tên của mẹ là Chokroza. Con sẽ tu tập với thiếu niên đó và sẽ thành tựu vị thần Yidam”.

Ta tìm thấy người con trai đó đúng như Đại Sư đã tiên đoán, và khi chúng ta cùng nhau trở về, ngài nói:

“Cậu bé này là một Trí Giả đã đạt quyền năng Phurba,

Bất khả xâm phạm vì có sinh lực bất hoại.

Vị Thần đã đặt tên cho cậu ta là Daka Diệt Quỷ (Dudul Pawo)         

Và vì cậu bé xuất hiện như một sư tử ở lễ đăng quang điểm đạo của mình,

Nên được ban danh hiệu Lhalung Pelgyi Senge”.

Sau khi được hướng dẫn nhập đàn pháp, Pelgyi Senge đạt tiến bộ tâm linh.

Năm đệ tử “gốc rễ” của đại Sư Liên Hoa Sanh: Lhalung Pelgyi Senge, Namkhai Nyingpo xứ Lhodrak, Ma Rinchen Chok, Dorje Dunjom và ta, Tsogyel; cùng với cô gái Dewamo được ngài chỉ định giữ các nhiệm vụ trong lễ điểm đạo Dorje Phurba. Dewamo được đặt tên lại là Chonema, Nữ Đạo Sĩ Vinh Quang, và được giữ vai trò Nữ Chủ Nhân Kim Cương (Dorje Jenmo); Atsara Sale và Atsara Pelyang được chỉ định làm Vũ Công Kim Cương (Doije Gingpa) và được đặt tên lại là Karma Dondrub và Karma Tarje; Sale người Bhutan được làm Thị Giả kim cương (Vajrakarmaka); và lúc đầu, ngài cho ta làm “người phối ngẫu căn bản” và Tashi Khyidren làm “người phối ngẫu giải thoát”. Sau khi Đại Sư trình bày bốn mươi hai Mandala “etram” thuộc bộ nghi quỹ “Dorje Phurba Tantra Byitotama”, và các mandala của bảy mươi tám Phurba, ngài cùng hai đồng tu chúng ta thực hành trong bảy ngày. Mọi ấn chứng đều xuất hiện hoàn hảo. Các vị thần theo hầu vị thần lớn Dorje Phurba thị hiện trước mắt, và các con dao phurba dùng trong nghi thức đã nhảy múa, bay tới lui tỏa ánh sáng bóng loáng và hương thơm ngát. Vào buổi tối lúc các hiện tượng lạ này xảy ra, Đức đại Sư biến thành Dorje Trollo (Bụng Phệ Kim Cương) còn ta thì biến thành Ekajati (Mụ Già Búi Tóc) hợp nhất với ngài, và Tashi Khyidren biến thành cọp cái để chúng ta cỡi đi nhiếp phục các quỷ thần của các tiểu thế giới thuộc bốn khu vực của Tây Tạng. Trên lưng cọp cái Khyidren, Đại Sư và người bạn đồng tu của ngài nhập định Doije Phurba tay phải cầm chùy kim cương chín mũi, tay trái múa, con dao phurba bằng đồng, Đại Sư phóng hiện vô số hóa thân giống như mình, trông rất khủng khiếp. Một trong các hóa thân này được gọi là Phurba Phẫn Nộ Kirn Cương Xanh Đen (Tingnak Doije Trophur), bay thẳng tới Paro Taktsang để nhiếp phục các quỷ thần, các Dãkinĩ phẫn nộ, bọn la sát, và các loại quỷ thần (của đạo Bon) ở vùng biên địa man rợ và ở các xứ khác như Bhutan, Nepal, India, và Lho… Các quỷ thần này đều thề phụng sự Giáo Pháp. Một hóa thân khác là Dao Thiêng Phẫn Nộ Kỉm Cương Tím (Muknak Doije Trophur) bay tới tận xứ Taktsang ở tỉnh Kham để nhiếp phục các loại quỷ thần ở các xứ man rợ thuộc Kham, Jang, Trung Hoa và Hor, lấy đi tinh lực sống của họ bắt họ phụng sự Giáo Pháp.

Lúc đó, một con rắn độc naga sống trong cái lạch thuộc Hồ Manasarovar chạy trốn Phurba Phẫn Nộ Kim Cương Tím, biến thành một con bò đỏ rồi xin Hoàng Đế cho nó trú ẩn. Hoàng Đế thấy nó bị xích chân, vết thương trên đầu rỉ máu và óc, lưỡi thè dài và hai mắt lồi ra. Hoàng Đế hỏi ai đã làm cho nó bị như vậy, nó trả lời:

“Tên man rợ vùng biên địa tên là Liên Hoa Sanh đã cố ý tiêu diệt cả thần lẫn người Tây Tạng. Hiện giờ nó đang đánh cả những quỷ thần vô tội, tôi đến đây để xin ngài cho trú ẩn”.

Động lòng thương hại, Hoàng Đế cho phép con bò đỏ được ẩn ở đó. Nhưng lúc ấy con bò đỏ biến mất. Còn đang thắc mắc về sự việc lạ lùng thì giọng nói của Đạo Sư Liên Hoa Sanh vang vọng trong tai ngài:

“Thưa Hoàng Đế, tình thương của ngài đặt không đúng chỗ.

Vì vậy trong các kiếp tương lai của ngài

Việc thành tựu sẽ có nhiều chướng ngại.

Các tín đồ tương lai của Đức Phật sẽ không sống lâu và gặp nhiều bất hạnh,

Trong thế hệ thứ ba, con quỷ bò đỏ này,

Sẽ là một hoàng tử tên là Bò (Vua Lang darma)

Sẽ giết anh mình và lập một chính quyền tội lỗi,

Sẽ tiêu diệt cả cái tên “kinh điển” và “mật điển”,

Đó là nghiệp chướng không thể tránh được”

Nghe tiên tri như vậy, Peigyi Dorje cầu nguyện:

“Ước gì tôi hủy diệt tên Vua Bò này”

Đức Đại Sư đáp: “Mong như vậy! Mong như vậy!”.

Rồi ngài nói trước là Pelgyi Doije sẽ giết Vua Bò. Ngài điểm đạo truyền pháp cho anh ta, và đó chính là lúc ngài đặt tên anh ta là Pelgyi Doije, Ngài lại ban cho anh ta những lời tiên tri chi tiết và lời chỉ dẫn riêng viết trên một cuộn giấy. Ngài cho phép anh ta thực hành nghi thức Hai Mươi Mahasakti Kilaya, là những vị thần có quyền năng lớn, và bảo anh ta thực hành ngay.

Ta, Tsogyel, và Pelgyi Senge đạt hợp nhất với Dao Thiêng Kim Cương, Chẳng bao lâu chúng ta có linh thị về các vị thần thuộc mandala của Phurba và đạt quyền năng của Phurba. Đại Sư còn dạy chúng ta nhập thành tựu tự điểm đạo, pháp hành trì riêng và hành trì chung “Phurba Chidu” thuộc bộ nghi quỹ phụ “Dorje Zhonnu”. Pháp “Phurba Chidu” có hai phần: phần trên là phương tiện đạt giác ngộ bằng pháp thực hành hiền hòa liên quan tới Vajrasattva, và phần dưới là phương tiện thực hiện một số hành động, đặc biệt như “giết”, bằng hành động giải thoát của Phurba. Đen và Độc (Dukphur Nakpo) liên quan tới Son Kilaya. Khi truyền cho chúng ta pháp này, Đại Sư nói: “Ta, Liên Hoa Sanh, không có pháp Dorje Phurba nào sâu xa hơn giáo lý này: Hãy thực hành và rút ra huyền năng của pháp này. Các con nên truyền một phần pháp này như giáo lý khẩu truyền của dòng truyền thừa, và một phần như bảo tạng dành cho người đời sau”. Rồi ngài chỉ dẫn chúng ta thấy cách thực hành.

Sau đó, ngài ban cho chúng ta mandala, giáo lý và phương pháp thành tựu Chuỗi Ánh Sáng Bất Tử Amitayus, Tập Hội Các Bí Mật, Tập Hội Các Đấng Chinh Phục, Một Trăm Ngàn Vị Thần Trong Một, Sáu Mươi Hai Vị Thần Trường Sinh, và nhiều pháp khác. Pelgyi Dorje và ta, hai anh em, thực hành không ngừng, và khi các vị thần tự hiển lộ, chúng ta thành tựu cấp Trí Giả Bất Tử trong niềm hân hoan.

Trong thời gian này, Đức bà Tsogyel tiêu diệt các pháp sư Đạo Bon, nhưng việc này sẽ được thuật lại cùng một lượt với việc mô tả sự thực hành các pháp khổ tu sau cùng của bà.

Tsogyel hành thiền ở khắp mọi nơi tại Tây Tạng, tới mức tâm trí thường nhân không thể hiểu nổi: ở dưới Tise (Núi Kailas) và ở trên Jampaling, trên hai mươi lăm đỉnh núi, trong mười tám đồn quân lớn, một trăm hai mươi tám địa điểm năng lực nhỏ, mười hai thung lũng lớn kín đáo, bảy nơi huyền diệu, hầm địa điểm năng lực bí mật, và bảy triệu chỗ cất dấu các bảo tạng. Một vài nơi này sẽ được đề cập ở phần sau, không thể kể hết chi tiết ở đây vì quá dài.

Đến đây chấm dứt chương thứ năm tường thuật việc Tsogyel hành thiền và thực hành khổ tu.

SAMAYA GYA GYA GYA!

Khai Mật Tạng Taksham Samten Lingpa khám phá
Việt dịch: Lục Thạch
Trích: Vũ điệu Dakini

Comments are closed.

MẠNH MẼ ĐỂ GIÁC NGỘ - BE POWERFUL TO ENLIGHTEN
Thông tin liên quan đến dòng Truyền Thừa Ripa Vinh Quang đã được Đức Pháp Vương - Đại Khai Mật Tạng Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche ban phước. Cầu mong kho tàng giáo lý Terma thâm diệu của dòng Truyền thừa Ripa Vinh Quang sẽ làm an dịu mọi nổi thống khổ của chúng sinh mẹ tại đất nước Việt nam thân yêu.

Om Ah Hung Maha Sengha Mani Radzaa Sarwa Siddhi Phala Hung