Kushinagar |

Kushinagar

Home Tham khảo Thực hành

Bài giảng sau đây diễn ra trong một chuyến hành hương đến các thánh địa Phật giáo ở Ấn Độ, vào thời điểm khi đoàn vừa đến Kushinagar, nơi Đức Phật nhập Niết Bàn. Được truyền cảm hứng bởi tầm quan trọng lớn lao của địa điểm này, Orgyen Tobgyal Rinpoche[1] đã từ bỏ sự dè dặt thông thường của bản thân và nói công khai về các giáo lý Dzogchen, đặc biệt là trạng thái của kết quả cuối cùng, điều có thể đạt được nhờ con đường vô cùng đặc biệt này.

Hôm nay, trong chuyến hành hương này, tôi muốn nói điều gì đó đặc biệt sâu xaHành giả Nyingma chúng ta, những vị đi theo Kim Cương thừa – điều xem kết quả là con đường (bao gồm ba nội Mật điển – Mahayoga, Anuyoga và Atiyoga) – xem Atiyoga là đỉnh cao của mọi tri kiến, đỉnh cao của tất cả chín thừa, tinh túy của mọi Kinh điển và Mật điển.

Theo Atiyoga, ‘Phật’ không là gì khác mà chính là hư không căn bản thoát khỏi tạo tác quan niệmtinh túy rỗng rang của sự thanh tịnh nguyên sơ. Đây là Pháp thân Phật. Trong ba thân – Pháp thânBáo thân và Hóa thân – Pháp thân là linh thiêng nhất và là nền tảng cho hai thân kia. Điều mà chúng ta gọi là ‘Pháp thân Phật’ là vĩnh cửu, bao trùm tất thảy và tự nhiên hiện diện trong dòng tâm của mọi hữu tình chúng sinh; các quan niệm về sinh và tử không áp dụng cho Pháp thân Phật.

Trong cõi thanh tịnh Akanishtha, Pháp thân Phật hóa hiện những sự hiển bày vĩ đại của Báo thân, các hiện thân của thân, khẩu, ý, phẩm tính và hoạt động của chư Thiện Thệ mười phương và bốn thời. Chư vị hiển bày trong thời thứ tư của sự bình đẳng vĩ đại nhờ năm sự hoàn hảo; về tinh túy, chư vị vượt khỏi hóa hiện và hóa tán, bởi chư vị là bản tính sâu xa vĩnh cửu và tự nhiên hiện diện.

Pháp thân hóa hiện Báo thân, vị lại hiển bày Hóa thân vì chúng sinh sống trong sáu cõi của sự tồn tại. Các Hóa thân này xuất hiện theo những cách khác nhau để chúng sinh sáu cõi có thể liên hệtùy theo tâm thế và thiên hướng đặc biệt của họ. Các Hóa thân chẳng gì hơn điều này – một hình tướng trong tâm của hữu tình chúng sinh. Thực sự, những hóa hiện Báo thân chẳng là gì ngoài Pháp thân và giống như vậy, các Hóa thân hoàn toàn là Báo thân và chẳng bao giờ dao động khỏi Pháp thânBa thân về bản tính là ba trí – tinh túy rỗng rang, bản tính biết rõ và lòng bi vô ngại. Mặc dù ba trí này bất khả phân với nhau, trong nhận thức của chúng sinh trên con đường, sáu Hóa thân Phật xuất hiện trước sáu loài chúng sinh.

Địa điểm linh thiêng mà hôm nay chúng ta viếng thăm là nơi Hóa thân xuất hiện trên thế giới của chúng ta, vị được biết đến là Thích Ca Mâu Ni, đã tan hòa trở về hư không căn bản. Ngài trước tiên sinh ra làm con trai của Vua Tịnh Phạn và Hoàng hậu Ma Da ở Lâm Tỳ Ni, sau đó, nói ngắn gọn, đạt giác ngộ viên mãn tại Kim Cương Tòa ở Bồ Đề Đạo Tràngchuyển Pháp luân ở Varanasi (Ngài không chỉ giảng dạy ở Varanasi và chúng ta hiểu rằng Ngài đã chuyển vô lượng Pháp luân tại số lượng địa điểm không nói rõ) và cuối cùng, năm tám mươi tuổi, tan hòa trở về hư không căn bản. Ngài là do sự chói ngời của Pháp thân hiển bày và khi Ngài tan hòa trở về Pháp thân, điều đó đã xảy ra ở đây, tại Kushinagar, được biết đến với các Phật tử là ‘nơi Đức Phật hiển bày giáo lý về nhập Niết Bàn’.

Với những vị có sự sáng suốt cao hơn, Ngài chỉ xuất hiện là nhập Niết Bàn, Ngài không thực sự nhập Niết Bàn. Như kinh văn nói rằng:

Đức Phật chẳng bao giờ vượt đau buồn nhập vào Niết Bàn,

Và thậm chí Giáo Pháp cũng chẳng bao giờ suy giảm[2].

Tuy nhiên, trong nhận thức của chúng sinh bình phàm, sau khi Phật giác ngộ hoàn hảo và trọn vẹn quyết định rằng đã đến lúc Ngài nhập Niết Bàn, Ngài chậm rãi đi đến địa điểm linh thiêng được gọi là Kushinagar này. Ngài bảo các đệ tử rằng, “Đây chính là nơi mà tất cả nghìn lẻ một vị Phật khác của Hiền Kiếp này đã hay sẽ nhập Niết Bàn”.

Ngài đã ngồi trong rừng cây Sala to lớn, điều khá phổ biến ở Ấn Độ. Các đệ tử của Phật đặt một chiếc giường dài giữa hai cây Sala để Ngài có thể nằm ở đó. Đức Phật sau đó nằm về bên phải và nhập Niết BànLúc ấy, trái đất rung động dữ dộihiển bày ‘sáu kiểu chuyển động xuất hiện khi một vị Phật nhập Niết Bàn’.

Thân Ngài được giữ trong hai mươi mốt ngày và vô số các vị đại Thanh Văn, A La Hán, vua và v.v. đã đến đỉnh lễThanh Văn Ca Diếp vĩ đại sau đó châm lửa giàn hỏa thiêu. Sau lễ trà tỳ, chư vị tìm thấy vô vàn xương và Ringsel được gia trì mà Tôn giả Ca Diếp đã cho đại chúng chiêm bái. Sau đấy, như Đức Phật đã chỉ dạy, các bảo tháp được xây dựng mà trong đó, các đệ tử đặt di cốt linh thiêng của Ngài.

Vì thế, một Hóa thân chỉ là một hình tướng chẳng bao giờ thực sự tách rời khỏi ‘nền tảng của hóa hiện’ – Pháp giới. Bởi vậy, chư Hóa thân Phật không thực sự nhập Niết Bàn. Khi điều gì đó được phản chiếu trên gương, nếu bóng biến mất, điều đó không phải là bóng chết mà bởi đối tượng được phản chiếu không còn ở trước gương nữa. Giống như vậy, khi thời gian của các chúng sinh cần được rèn luyện đã cạn kiệt, bóng không xuất hiện trên gương và hữu tình chúng sinh không thấy Hóa thân nữa. Địa điểm được gia trì, nơi điều này đã xảy ra, là nơi chúng ta đang ở hiện nay, Kushinagar, ‘thị trấn của cỏ Kusha vĩ đại’.

Tất cả các bạn, những vị thực hành Giáo Pháp, cần biết điều này, đặc biệt là những người thực hành Kim Cương thừa, thứ xem kết quả là con đường, và các giáo lý Dzogchen. Bản tính của tâm bạn, thứ là Rigpa, ban sơ và chẳng bị những ý nghĩ bình phàm chạm đến, là Phật. Không Phật nào, dù là một Đấng Chiến Thắng trong quá khứhiện tại hay tương lai, từng nhắc đến Phật hay trạng thái giác ngộ vượt khỏi điều này. Thậm chí nếu bạn có thiền định trong nhiều kiếp, bạn sẽ chẳng tìm thấy đối tượng thiền định nào vĩ đại hơn điều này. Duy trì trải nghiệm trần trụi về tâm của chính bạn, không bị vấy bẩn bởi bất kỳ ý nghĩ quá khứhiện tại hay tương lai nào, là Phật.

Đầu tiên, điều này được giới thiệu cho các bạn nhờ những chỉ dẫn cốt tủy của đạo sư; sau đó, bạn thực hành nó. Sau khi được giới thiệu, nếu bạn rèn luyện trong việc duy trì sự nhận ra đó và thực hành khi biết rằng tinh túy rỗng rang, bản tính biết rõ và lòng bi vô ngại là ba thân, thì trong một thân và một đời, bạn sẽ hoàn thiện thực hành Tịnh Quang Đại Viên Mãn và được giải thoát trong nền tảng nguyên sơ của sự giải thoát, đúng như các giáo lý Dzogchen vẫn nói.

Vô số hành giả đã và vẫn đang được giải thoát nhờ thực hành theo cách này. Điều gì đã trao cho họ khả năng đạt giải thoát đó? Các giáo lý Tịnh Quang Đại Viên Mãn, thứ lan tỏa trên thế giới này và vẫn còn hiện hữu ngày nay như chúng đã từng trong quá khứ. Sự trao truyền liên tục của những chỉ dẫn cốt tủy vẫn duy trì không gián đoạnGiá trị của những giáo lý này chẳng thể được cường điệu.

Vì thế, nếu bạn muốn thực hành Tịnh Quang Đại Viên Mãn, “Bạn không cần tìm kiếm Phật ở đâu khác – Phật ở trong bạn, như những giáo lý này giải thích. Làm sao chúng ta có thể thấy rằng Phật ở trong chúng ta? Khía cạnh thanh tịnh nguyên sơ của Phật được giới thiệu cho bạn – nếu bạn sau đó thiền định về nó, khía cạnh tự nhiên hiện diện, tức là các linh kiến của Togal (nhận thức trực tiếp về Pháp tính, sự tăng trưởng của trải nghiệm, sự chín muồi hoàn toàn của Rigpa và sự cạn kiệt của các hiện tượng vượt khỏi tâm bình phàm) được trải qua lần lượt. Khi các linh kiến về sáu ngọn đèn xuất hiệnchúng ta thực sự thấy Pháp thân và Báo thân bằng mắt mình. Khi điều đấy xảy ra, chúng ta phát triển sự chắc chắn rằng Phật thực sự ở trong chúng ta và không ở đâu khác.

Chúng ta thấy nó trực tiếp tại giai đoạn của nhận thức trực tiếp về Pháp tính. Trong giai đoạn tiếp theosự tăng trưởng của trải nghiệmnhận thức này phát triển và khi chúng ta đạt đến sự chín muồi hoàn toàn của Rigpachúng ta thấy mọi thứ cần thấy, Rigpa của chúng ta đạt đến sự diễn tả trọn vẹn của nó và chúng ta đạt được sự ổn định trọn vẹn. Sau đó, chúng ta trải qua sự cạn kiệt của các hiện tượng trong Pháp tính, khi mà chúng ta có sự chắc chắn viên mãn rằng Phật không ở đâu khác mà trong chính chúng ta – chúng ta thấy diện mạo tịnh quang của đạo sư Pháp thân. Mọi cấp độ của các con đường và các địa đều được hoàn thành.

Cuối cùngchúng ta thấy bảy naro[3] xếp chồng. Khi điều đó xảy ra, mọi hình tướng và ý nghĩ của đời này đã cạn kiệt và bị vứt bỏ như xác chết. Sau bảy ngày, thành trì Pháp thân hiển bày và chúng ta chắc chắn đạt đến Phật quả. Tập trung vào móng tay, chúng ta nhanh chóng thành tựu thân ánh sáng, thứ vẫn hữu hình với hữu tình chúng sinh và chúng ta sẽ trụ trong thân này chừng nào hư không hay luân hồi còn duy trìliên tục và tự nhiên làm lợi lạc hữu tình chúng sinh. Lúc này, chẳng còn vấn đề về việc nhập Niết Bànchúng ta vượt khỏi mọi quan niệm về sinh, tử và v.v. Chúng ta trở nên bất khả phân với học giả vĩ đại Vô Cấu Hữu, vị sống trên đỉnh của Ngũ Đài Sơn ở Trung Quốc và với Guru Rinpoche, Padma Totreng Tsal, vị cư ngụ trên Núi Màu Đồng tại Chamara.

Điều này hoàn toàn chân thật. Chúng không phải là những huyền thoại tưởng tượng mà ai đó nghĩ ra; chúng là điều thực sự xảy ra khi chúng ta hoàn toàn phát triển sức mạnh của thực hành. Vào lúc như vậy, có những dấu hiệu chứng ngộ chẳng thể nghĩ bàn. Kiểu chứng ngộ đó xảy ra với những vị thực hành và tuân theo các chỉ dẫn của giáo lý Dzogchen, thoát khỏi mọi nghi ngờ.

Hôm nay, tôi muốn nói về điều này. Trong suốt cuộc đời, tôi chưa từng nói về chủ đề sâu xa này, nhưng hôm nay, tôi đã làm vậy.

Nguồn Anh ngữ: https://all-otr.org/short-talks/71-kushinagar.

Gyurme Avertin chuyển dịch Tạng-Anh; Philip Philippou hiệu đính.

Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ.

 


[1] Về Orgyen Tobgyal Rinpoche, tham khảo phần Phụ Lục trong bài Hoạt Động Kính Ái (https://thuvienhoasen.org/p38a34386/3/hoat-dong-kinh-ai).

[2] Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim.

[3] Naro là một trong các dấu được dùng trong Tạng ngữ để chỉ các nguyên âm và được tạm hiểu là tương ứng với ‘o’. Điều liên quan ở đây là hình dạng của dấu này ◌ོ, thứ tương tự với linh kiến được thấy.

Comments are closed.

MẠNH MẼ ĐỂ GIÁC NGỘ - BE POWERFUL TO ENLIGHTEN
Thông tin liên quan đến dòng Truyền Thừa Ripa Vinh Quang đã được Đức Pháp Vương - Đại Khai Mật Tạng Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche ban phước. Cầu mong kho tàng giáo lý Terma thâm diệu của dòng Truyền thừa Ripa Vinh Quang sẽ làm an dịu mọi nổi thống khổ của chúng sinh mẹ tại đất nước Việt nam thân yêu.

Om Ah Hung Maha Sengha Mani Radzaa Sarwa Siddhi Phala Hung