Tái Sinh Và Nghiệp |

Tái Sinh Và Nghiệp

Home Tâm xả ly

Tái sinh và nghiệp là những vấn đề liên quan đến nhau gắn liền với mỗi cuộc đời. Mỗi khoảnh khắc là sự nối tiếp của khoảnh khắc trước đó, và theo quan điểm Phật giáo sự nối tiếp từ khoảnh khắc này tới khoảnh khắc khác dường như không dứt. Tái sinh, nói một cách giản dị là sự nối tiếp của tâm thức.

 Có những mức độ tái sinh khác nhau – tái sinh của những người bình thường và chúng sinh trong những cõi giới khác, như là súc sinh, trời, thần linh, và bồ tát. Sự tái sinh tối thượng là hóa thân (nirmanakaya) của phật – đó là sự hiển thị thân vật chất của phật. Từ này, nirmanakayatulku trong tiếng Tạng có một định nghĩa đặc biệt. Theo nghĩa đen, nó có nghĩa là “ hiện thân”. Tái sinh áp dụng cho tất cả chúng sinh, nhưng thuật ngữ tulku lại ám chỉ đến hóa thân của những hành giả thành tựu đặc biệt, những vị bồ tát và những vị phật toàn vẹn. Những tái sinh này chỉ có mục đích duy nhất là để phục vụ chúng sinh.

 Một định nghĩa đơn giản của tái sinh là sự nối tiếp của tâm thức. Nghĩa là cùng một tâm thức nhưng tái sinh vào những thân thể khác nhau. Tâm thức khiến cho việc tái sinh diễn ra liên tục dưới những hình tướng vật lý khác nhau. Vì lý do này, theo Phật giáo, rõ ràng là tâm thức không chết mà chỉ có thân thể chết. Cái chết là của thân thể. Tâm thức không chết. Đây là hai vấn đề quan trọng cần nắm bắt được ngay từ đầu.

 Thời điểm của cái chết là một khoảnh khắc mạnh mẽ. Nếu một người bình thường ở khoảnh khắc đó có lòng thành tâm mạnh mẽ, và có lòng bi mẫn, và sự sáng suốt, trạng thái tâm thức của người này sẽ tác động to lớn và tích cực vào kiếp tái sinh của họ. Trong khoảnh khắc này, nếu tâm thức ở trạng thái tiêu cực như là sân hận, cự tuyệt, sợ hãi, vân vân, thì sẽ có tác động tiêu cực mạnh mẽ vào kiếp tái sinh tương lai. Vì vậy, thời điểm của cái chết là điều cực kỳ quan trọng cần xem xét vì liên quan tới tái sinh.

 Nói chung, tái sinh của những chúng sinh bình thường có thể chia làm hai loại, nhưng điều quan trọng cần nhớ rằng mỗi cá nhân là một trường hợp đơn lẻ. Có cái chết bình thường không có bất kỳ nhân tố tích cực hay tiêu cực nào trong suốt thời điểm của cái chết. Những người trải qua loại này sẽ tái sinh với sự kiểm soát hoàn toàn của nghiệp kiếp trước của họ, bởi vì không có ảnh hưởng đặc biệt nào trong khoảnh khắc diễn ra cái chết. Nếu có tác động mạnh mẽ của các yếu tố tích cực hay tiêu cực, khi đó các yếu tố này sẽ lấn át nghiệp quá khứ. Đây là loại tái sinh thứ hai mà những tư tưởng tích cực hay tiêu cực sẽ dẫn dắt tâm thức chúng sinh vào tái sinh tích cực hay tiêu cực.

 Tái sinh của một vị bồ tát khá là khác với các chúng sinh bình thường. Các bồ tát là những người đã thực hành bồ tát đạo thành công, và có Lời thề của Bồ tát, do vậy họ cam kết để đạt tới giác ngộ vì tất cả chúng sinh cũng như bản thân họ. Đây là một bồ tát đích thực. Có những hành giả rất tinh tấn và những vị bồ tát đạt được tỉnh giác của bồ tát sơ địa. Nhưng có sự khác nhau giữa hai cấp độ này. Những hành giả rất tinh tấn chưa đạt tới bhumi đầu tiên, nhưng do họ có động cơ tốt đẹp nên họ sẽ tái sinh trong những hoàn cảnh giúp họ tiếp tục thực hành bồ đề tâm. Họ đã có những cam kết về bồ tát đạo, và do sức mạnh bồ đề tâm của họ, sự tái sinh của họ sẽ có nhiều hoặc là ít hơn hành động của một vị bồ tát. Những người này có thể được gọi là những vị bồ tát thế gian vì họ chưa thực sự đạt được bhumi đầu tiên.

 Theo các kinh điển, ngay khi một vị bồ tát sơ địa đạt được tỉnh giác đầu tiên, sự hiển thị của người này không bị giới hạn nữa. Đức Phật nói rằng vị bồ tát sơ địa có thể cùng lúc hiển thị ở một trăm nơi khác nhau để trợ giúp chúng sinh. Ngài có thể hiển thị ở một trăm ngân hà khác nhau, hay là ở một trăm vị trí khác nhau trong một quốc gia. Từ cấp độ sơ địa cho đến cấp độ thập địa của quả vị bồ tát, năng lực xác định để tái sinh vì lợi ích của chúng sinh sẽ được gia tăng, và do vậy tạo thành loại khác của tái sinh – gọi là hóa thân bồ tát.

 Trong truyền thống Phật giáo Kim Cương Thừa của Tây Tạng, chúng tôi có các tulkus. Kim Cương Thừa có những phương pháp xác định các đạo sư hóa thân, và dùng những phương pháp này có thể tìm bất kỳ đạo sư hóa thân nào, không chỉ những hóa thân của các đạo sư mà cả hóa thân của những người khác nữa. Dĩ nhiên, nếu một tulku tái sinh trong một vũ trụ khác thì không thể đem ngài trở lại, nhưng nếu tái sinh trong vùng xung quanh thì hóa thân của họ có thể tìm được. Phương pháp này chỉ sử dụng để tìm các đạo sư, không được dùng để tìm những người bình thường, các nhà lãnh đạo chính trị, hay là các vị vua. Phương pháp này được sử dụng chỉ để tìm các lãnh tụ tôn giáo, một truyền thống mà cho đến nay chưa bao giờ bị phá vỡ.

 Không phải tất cả các đạo sư đều được tìm thấy. Một số tulkus trở lại một số lần nhất định nhưng sau đó không tìm thấy nữa. Chắc chắn cũng có những đạo sư vĩ đại tái sinh mà không được nhận ra chính thức. Bởi có những lý do liên quan đến hạnh bồ tát của mỗi đạo sư, mà họ không xuất hiện công khai.

 Hầu hết các môn phái Phật giáo Kim Cương Thừa đều có ít nhất một đạo sư hóa thân, hay là tulku. Điều này thường khởi đầu khi một đạo sư thánh thiện và vĩ đại thiết lập một tu viện có một đệ tử đặc biệt, và thu hút một nhóm các tín đồ. Khi đạo sư đó viên tịch, sự tái sinh của người này thường được tìm thấy bởi người đồng môn gần gũi, có thể là một đệ tử, hoặc là một trong số những vị thầy còn sống của đạo sư này. Các đệ tử sẽ chăm sóc tulku dưới sự chỉ bảo của người đệ tử chính, hoặc là của hóa thân của người thầy của đạo sư. Sớm hay muộn thì vị đạo sư tái sinh sẽ trở thành người đứng đầu của tu viện và tiếp tục các hoạt động làm lợi ích cho chúng sinh. Đó là hoạt động của hệ thống tulku. Cùng là một đạo sư, và vài đệ tử gần gũi đồng thời cũng là những người thầy, họ tái sinh liên tục để đảm bảo sự nối tiếp liên tục của việc giảng dạy trong tu viện. Ở Tây Tạng đã từng có hàng ngàn tu viện, và 80 phần trăm trong số này có ít nhất một tulku.

 Tái sinh là một phần của hiện tượng không ngừng hiển thị từ thời vô thủy . Cũng như vậy, sự tái sinh của các bồ tát và các đạo sư vĩ đại luôn luôn diễn ra. Theo lịch sử ghi nhận, việc nhận ra các hóa thân như thế – những người mang cùng tước hiệu và tiếp nối vị trí, chỉ có trong Kim Cương Thừa. Ở những thời đại khác và nơi khác, các tulkus xuất hiện và được nhận ra bởi các phẩm chất đặc biệt mà họ biểu hiện trong cuộc sống của họ, nhưng không có dòng dõi đặc biệt của tulkus được thiết lập. Hệ thống thừa nhận tulkus là duy nhất có trong Kim Cương Thừa. Vị lama hóa thân đầu tiên là Karmapa thứ nhất – Dusum Khyenpa, là người mang cùng tên, lãnh đạo cùng dòng truyền thừa, và phụ trách cùng tu viện và các đệ tử, ngài đã để lại cho các đệ tử những chỉ dẫn làm thế nào để tìm thấy tái sinh của ngài.

 Hóa thân phật, sự hiển thị của phật là khác với hóa thân của một vị bồ tát. Hóa thân phật vượt qua mọi hữu hạn. Ngay cả bồ tát thập địa vẫn có một số giới hạn nhất định. Một vị bồ tát thập địa có một vài giới hạn trong sự hiển thị. Dù ngài có nhiều năng lực cực kỳ to lớn nhưng vẫn hạn chế. Một vị phật là vô hạn. Tất cả các bồ tát đều có nhiều hiện thân đặc biệt, mà năng lực hiển thị của họ tùy thuộc vào cấp độ của họ – sơ địa là 100, rồi tăng lên ở mỗi cấp độ kế tiếp. Vị phật vượt qua mọi giới hạn và có thể tiếp tục hiển thị vô tận vì những điều tốt lành cho tất cả chúng sinh.

 Hóa thân phật như là không gian chứa đựng mọi chúng sinh và mọi điều, không bị giới hạn ở một hành tinh hay một thiên hà mà bao gồm tất cả sự vật. Vì không gian là vô tận. Nếu bạn xây một tòa nhà bê tông, không gian không mất đi. Nếu bạn phá hủy tòa nhà thì không gian vẫn ở đó. Không gian không đến từ đâu cả. Nó không phải là thứ chúng ta có thể nắm giữ, vì nó tràn ngập khắp nơi. Việc làm của Đức Phật cũng vậy – là vô hạn, vượt ra khỏi tính nhị nguyên, và diễn ra bất cứ nơi nào có các nhân và duyên để trợ giúp. Nếu tất cả chúng sinh trong toàn bộ thế giới hệ cầu nguyện thành tâm cùng một lúc, thì sự cầu phúc của Đức Phật cũng sẽ rải đều cho từng chúng sinh. Một vị phật sẽ không có trở ngại nào khi ban nhiều ân phúc vì phật đã vượt ra mọi giới hạn. Khi một vị phật hiển thị cho chúng sinh có sự tỉnh giác của cấp bồ tát sơ địa, phật sẽ thị hiện trong hình tướng của Báo thân (sambhokaya). Hình tướng này được mô tả như là thân thể để một chúng sinh ở cấp độ thấp hơn – ngôi bồ tát ban đầu, có thể nhận thức được một vị phật. Ở các cấp độ tinh tấn khác nhau sẽ có những năng lực nhận biết khác nhau. Có thể suy luận một cách đơn giản, như là bạn nhìn thấy một khuôn mặt quen trong đám đông. Bạn thấy quen thuộc và nhận ra người này vì bạn biết về anh ấy hay là chị ấy. Bạn nhận ra các dấu hiệu của người này. Khi gặp một vị phật, nếu bạn không quen thuộc với các biểu hiện vi tế thì bạn sẽ không biết đã gặp một vị phật. Khi một vị phật thị hiện cho chúng sinh dưới cấp bồ tát sơ địa thì thường xuất hiện trong hóa thân, và là hóa thân vô hạn.

 Để hiểu biết về tái sinh và nghiệp, từ quan điểm Phật giáo, chúng ta phải nhìn vào chúng sinh, những trải nghiệm của họ, và môi trường xung quanh họ. Có một thuật ngữ được dùng trong các kinh điển Phật giáo để chỉ những hiện tượng này – đó là ảo tưởng / hay là huyễn hoặc. Các kinh điển nói về cuộc đời của một chúng sinh bình thường, bao gồm môi trường xung quanh, các sự kiện, và các điều kiện – là huyễn hoặc.

 Trong kinh Mật điển, có ba loại huyễn ảnh /ảo tưởng. Loại đầu tiên và dài nhất là khi ta bắt đầu từ vô thủy cho tới trước khi đạt được giác ngộ – gọi là huyễn ảnh của luân hồi. Loại thứ hai bắt đầu từ khi chúng sinh sinh ra cho đến lúc chết. Nó kéo dài một kiếp sống, và gọi là huyễn ảnh của cuộc đời. Loại thứ ba là ngắn nhất và diễn ra trong giấc ngủ – từ lúc bắt đầu ngủ cho đến khi thức giấc – loại này gọi là huyễn ảnh của giấc mơ. Tất cả ba loại này đều là những huyễn ảnh có tác động như nhau, chỉ khác duy nhất là mức độ kéo dài của từng loại. Theo quan điểm Mật thừa, đây là một cách nhìn vào toàn bộ sự sinh tử của chúng sinh.

 Mỗi một huyễn ảnh có một gắn kết chung để giữ chúng lại với nhau, giống như các hạt của tràng hạt được gắn với nhau bởi một sợi dây nhỏ. Huyễn ảnh của luân hồi bị nắm giữ bởi “cái tôi”. Bất kể là sinh ra ở cõi giới người hay là súc sinh, trong địa ngục hay thiên đường “cái tôi” luôn hiện diện. Cho đến trước khi đạt được giác ngộ thì “cái tôi” vẫn còn. Huyễn ảnh về kiếp sống được củng cố bởi nghiệp riêng biệt mà hiển thị đối với từng cá nhân. Nghiệp được tạo ra và tập trung vào bản ngã của cá nhân. Huyễn ảnh thứ ba, giấc mơ phụ thuộc vào tiềm thức của cá nhân. Loại tiềm thức này thể hiện trong giấc mơ. Điều này nghĩa là bạn không thể mơ về những điều mà bạn không trải nghiệm trực tiếp hoặc là gián tiếp. Đôi khi giấc mơ là sự nhận biết trước do mối liên hệ mạnh mẽ của tiềm thức với một vài trường hợp được gọi là trực giác. Nhưng nó cũng có thể là nỗi ám ảnh thể hiện qua giấc mơ do bạn nghĩ về một điều gì quá nhiều. Cũng có thể do bạn lo lắng về một vấn đề và vì lý do nào đó nó thể hiện trong những giấc mơ, và do vậy không ích lợi cho bạn. Những giấc mơ đến từ tiềm thức cá nhân, rồi chính bản ngã của cá nhân giữ huyễn ảnh giấc mơ lại cùng với nhau.

 Ba loại huyễn ảnh này được chứa đựng trong bản ngã, và đều liên quan với cái tôi trong cùng một cách thức. Tái sinh thường liên quan đặc biệt với loại huyễn ảnh về cuộc đời, và tiếp tục cho tới huyễn ảnh của kiếp sống sau. Giữa các huyễn ảnh của các kiếp sống có một giai đoạn quan trọng – được gọi là giai đoạn trung gian (hay là trung ấm. ND) sẽ được đề cập chi tiết sau.

 Sự tái sinh trả lời cho chúng ta nhiều câu hỏi. Tại sao người này giàu có nhưng người khác lại nghèo? Tại sao có người ốm yếu trong khi người khác lại khỏe mạnh? Tại sao mọi người lại nhìn, nghĩ, và sống khác nhau? Tại sao có người sinh ra trong quốc gia thường xảy ra chiến tranh tàn khốc, nhưng người khác thì sinh ra trong một quốc gia thanh bình? Khi một người tái sinh, thì kiếp sống hiện tại của người này là sự thể hiện của nghiệp cá nhân – đó là các nhân và duyên đã tạo từ các kiếp sống trước. Đó cũng là nhân của bất kỳ hoàn cảnh nào mà một người đang trải nghiệm. Hiểu biết điều này (nhân – duyên) là nền tảng quan trọng cho sự hiểu biết toàn bộ lời dạy của Đức Phật.

 Nghiệp và tái sinh là thuộc về mức độ chân lý tương đối. Ngay một cá nhân ở trong một hoàn cảnh nhất định – có thể là một hoàn cảnh tồi tệ – ở cùng thời điểm đó người này vẫn có khả năng trở thành giác ngộ. Mọi người đều có khả năng như nhau để trở thành giác ngộ. Đó là chân lý tuyệt đối. Đó là lý do tại sao điều này là nỗ lực xứng đáng để lọc sạch và sửa chữa những hiểu lầm trong chính chúng ta và những người khác. Nếu các hoàn cảnh là đúng đắn, nếu có những người cố gắng với lòng bi mẫn để giúp người khác, thì trí tuệ của họ có thể tăng trưởng. Một người tội lỗi có thể trở thành người tốt. Về bản chất tối thượng mọi người là hoàn hảo, là một vị phật. Mặc dù vậy, ở khía cạnh tương đối, mọi người có nhiều điều không hoàn hảo cho đến khi tỉnh thức của họ đạt được ở mức độ nhất định. Tái sinh và nghiệp cho phép chúng ta hoạt động hướng tới tỉnh giác ở mức độ tương đối. Trong một ý nghĩa nhất định, chúng là phương tiện giúp chúng ta tinh tấn.

 Có một số hiểu sai về nghiệp (karma). Nhiều người nghĩ nghiệp là không thể thay đổi. Họ nói “Ồ đó là nghiệp” và họ từ bỏ (nỗ lực thực hành). Tại sao điều đó lại xảy ra? Quan điểm này là kết quả của tư tưởng xem nghiệp là bản chất cốt lõi. Ở khía cạnh tuyệt đối, nghiệp không tồn tại, nhưng nói một cách tương đối, mọi thứ đều là nghiệp, do vậy nghiệp là chân lý tương đối. Nghiệp là tương đối nên có thể thay đổi. Nó không phải là bất di bất dịch. Nếu nghiệp là chân lý tuyệt đối, phật có thể không bao giờ tồn tại, bởi lẽ làm thế nào một người có thể trở thành phật? Ở khía cạnh chân lý tuyệt đối, nếu nghiệp không thể hủy bỏ thì điều đó không thể xảy ra. Nghiệp là chân lý tương đối – lời dạy này luôn được nhắc trong các Kinh điển, Giới luật, Luận tạng, và Mật điển. Dù chúng ta có bất kỳ loại “nghiệp xấu” nào, thì luôn luôn có cách để thanh lọc.

BÁNH XE CUỘC ĐỜI

 Các Kinh điển đều nói đến giáo lý của Đức Phật về sự phụ thuộc lẫn nhau của nhân và quả. Giáo lý quan trọng giải thích về điều này –là mười hai mối liên hệ duyên khởi (còn gọi là thập nhị duyên khởi. ND). Giáo lý này trình bày rõ về toàn bộ quá trình liên tục của huyễn ảnh lớn trong bức tranh rộng lớn về chu kỳ tái sinh, luân hồi; trong chuỗi liên tục ngắn hơn của một kiếp sống đơn lẻ, và chuỗi liên tục của mỗi khoảnh khắc. Trong các tu viện Phật giáo Tây Tạng, chúng ta thường nhìn thấy bức tranh mô tả huyễn ảnh của chu trình luân hồi và mười hai mối liên hệ duyên khởi như là Bánh xe của Cuộc đời.

 Mối duyên khởi đầu tiên là vô minh. Bởi chúng ta không nhận biết được tính vô nhị do bản ngã / cái “tôi”, nên chúng ta trở nên nhị nguyên. Bị che đậy bởi cái “tôi”, chúng ta không nhìn thấy thực thể tối thượng. Đây là vô minh, mối liên kết đầu tiên trong chuỗi duyên khởi. Trong Bánh xe Cuộc đời, vô minh được biểu hiện như một người đàn ông mù lòa.

 Mối duyên khởi thứ hai là hành. Do vô minh, chúng ta phát triển sự ham muốn để làm vài thứ, để hành động – hành động tích cực, hành động tiêu cực, hoặc là những hành động không xấu cũng không tốt. Do kết quả của ham muốn này, những nhân và duyên tiếp theo được tạo ra. Ham muốn để hành động là mối liên kết thứ hai trong chuỗi nhân duyên. Một bình gốm biểu tượng cho ham muốn.

 Mối duyên khởi thứ ba là thức. Ham muốn hướng tới ý thức mà khởi đầu với nhận thức tốt và xấu. Trong bức tranh, hình ảnh con khỉ ăn trái đào là biểu tượng cho điều này. Nếm trải kinh nghiệm luân hồi tạo ra si mê, cung cấp thức ăn cho ý thức này phát triển. Mối liên kết thứ ba có khả năng tạo ra ý thức vững chắc để tiếp tục trong tương lai.

 Mối duyên khởi thứ tư là sắc tướng. Biểu thị qua hình ảnh hai người đàn ông trong một cái thuyền, mang biểu thị của các duyên, bao gồm hiện tượng bên ngoài, như là các nguyên tố và các hình tướng nhị nguyên và nhiều loại khác. Mỗi khía cạnh của ý thức gắn với những cơ chế môi trường.

 Mối duyên khởi thứ năm là sáu giác quan. Do phân chia hơn nữa tính nhị nguyên, thông qua mắt/hình tướng, tai/âm thanh, lưỡi/vị, da/tiếp xúc qua va chạm, và mũi/ ngửi, trở thành vững chắc hơn. Mối liên kết này được mô tả trong Bánh xe Cuộc đời như là sáu căn nhà trống rỗng.

 Mối duyên khởi thứ sáu là xúc. Gọi là sự tiếp xúc. Đây là sự gặp gỡ của giác quan và sự vật thông qua giác quan, khi các giác quan trở thành mạnh mẽ đã phát triển mang tính đối ngẫu. Đó là dục vọng – ham muốn để chạm hay là tiếp xúc với các đối tượng thông qua giác quan, và điều này biểu tượng qua hình ảnh sự giao hợp của người đàn ông và người phụ nữ.

 Mối duyên khởi thứ bảy là thọ. Mối duyên khởi thứ sáu dẫn đến duyên khởi thứ bảy – là kết quả của tiếp xúc. Đó là cảm thọ thỏa mãn hoặc đau đớn. Khi có tiếp xúc hay là va chạm lúc đó bạn có cảm thọ. Nếu đó là tốt đẹp thì bạn sẽ thích; nếu nó là tồi tệ, bạn sẽ không thích. Một âm thanh, mùi vị, bất cứ điều gì có thể đưa đến sự thỏa mãn hay là đau đớn. Lúc đó sẽ phát triển hơn nữa yếu tố này: là khi có ai đó ca ngợi bạn thì bạn vui vẻ, và khi có người lăng mạ thì bạn khó chịu. Điều này là sự phát triển phân tách ra, nhưng được xem là một phần của duyên khởi thứ bảy. Trong bức tranh, mối duyên khởi này được biểu hiện như một người mù bởi những mũi tên xuyên vào hai mắt, vì các cảm thọ có thể quá độ và khiến chúng ta không thấy được bản chất và hoàn cảnh thật sự.

 Mối duyên khởi thứ tám là tham ái. Tham ái khiến bạn luôn luôn muốn hơn nữa. Điều này được thể hiện trong bức tranh là mọi người đang uống. Yếu tố này đưa đến do sự phát triển thêm của cảm giác nhị nguyên. Cá nhân bị gắn với các hình tướng, vị, va chạm nhất định. Và có ham muốn nhiều hơn nữa. Cùng với luyến ái và tham lam đối với mọi thứ, bạn có thể dẫn tới ác cảm đối với những thứ bạn không thích, và nỗi sợ hãi bạn sẽ bị mất những thứ bạn có. Vì vậy, nó không phải chỉ là một mặt. Bạn bị gắn vào nỗi sợ vì mặt khác của tính tham lam. Bạn không thể từ bỏ vài thứ bạn muốn có, nhưng bạn cũng không thể từ bỏ điều bạn không muốn có. Cả hai cực đoan này đều được coi là tham ái.

 Mối duyên khởi thứ chín là thủ. Bạn có khuynh hướng theo đuổi những thứ bạn ham muốn hoặc là từ chối những thứ bạn ác cảm. Điều này được mô tả trong bức tranh như là một con khỉ đang nắm giữ trái cây. Điều này cũng có thể vận hành theo cách ngược lại, khi nỗi sợ hãi hoặc là ác cảm được gia tăng hướng tới những điều tốt cho bạn, nhưng bạn lại từ chối. Hay là vài điều là không tốt cho bạn, ngay cả rất có hại, nhưng do tham ái và tham lam những thứ này vẫn tăng lên, do vậy bất chấp những điều này, bạn sẽ làm bất cứ điều gì để có được nó. Nghiện ma túy là một ví dụ về điều này. Nắm giữ và chiếm đoạt là kết quả của duyên khởi thứ tám, cái này gia tăng tham ái và lòng tham, và làm tăng thêm ham muốn và theo đuổi những mục tiêu của tham ái.

 Mối duyên khởi thứ mười là hữu. Hay còn được dịch như là tác thành. Đó là sự tích tụ của nghiệp đã củng cố để đưa đến các quả tương lai – ham dục, luyến ái, và nắm giữ. Mối duyên khởi này mở cửa cho chuỗi tiếp tục của các nhân duyên, và cũng lát đường để tái sinh vào một trong sáu cõi giới của luân hồi. Điều này được biểu thị là một phụ nữ có bầu.

 Mối duyên khởi thứ mười một là sinh. Đây là quả của các nhân và duyên đã được tạo ra từ những mối duyên khởi trước. Đó là sự sinh. Tùy thuộc vào nghiệp, nhân và duyên, chúng sinh sẽ sinh vào trong một của sáu cõi giới. Cõi giới người ban cho ta cơ hội tốt nhất cho sự tỉnh giác. Cũng có thể sinh vào các cõi giới của trời, nửa trời nửa người (atula), súc sinh, ma đói, và địa ngục. Khi các duyên chín muồi, sự sinh diễn ra. Nó được mô tả trong Bánh xe Cuộc đời như là sự sinh ra của đứa trẻ.

 Mối duyên khởi thứ mười hai là lão và tử. Khi sự sinh diễn ra, tuổi già và cái chết theo ta một cách tự nhiên. Sinh ra là khởi đầu của cái chết. Cái chết là khởi đầu chu kỳ của mọi thứ lại bắt đầu. Một xác chết là biểu thị cho điều này trong bức tranh Bánh xe Cuộc đời.

 Duyên khởi đầu tiên, vô minh, duyên khởi thứ tám, tham ái, và duyên khởi thứ chín, thủ/ nắm giữ, được xem là ba ô nhiễm. Con gà trống là biểu thị cho sự nắm giữ; con rắn biểu thị cho ham dục và tham ái; và con heo biểu thị cho vô minh, đây là các yếu tố được thể hiện ở trung tâm của Bánh xe Cuộc đời. Duyên khởi thứ hai, hành và duyên khởi thứ mười, hữu/tạo tác, được phân loại như là hành động, hay là nghiệp. Trong Bánh xe Cuộc đời, duyên khởi này được thấy như là một viền tròn bao quanh ba ô nhiễm chính, một bên là những người có các hoàn cảnh tốt đẹp, và một bên khác là những người có các hoàn cảnh tồi tệ. Các duyên khởi thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, mười một, và mười hai được phân loại như là nền tảng cho sự khổ đau của luân hồi. Cũng có một cách nhìn khác về mười hai mối duyên khởi theo một thứ tự khác. Toàn bộ Bánh xe Cuộc đời bị nắm giữ bởi ma quỷ, Diêm vương (Yama), và Thần Chết – điều này nghĩa là dù ở cõi giới hay hoàn cảnh nào thì chu kỳ tái sinh vẫn tiếp diễn. Thoát ra khỏi sự đắm chìm vào bánh xe, Đức Phật chỉ cho ta con đường giải thoát khỏi tái sinh và khổ đau.

 Đấy là nguyên lý tái sinh được dạy trong các Kinh điển Phật giáo và Mật điển. Tái sinh, và việc chuyển từ kiếp sống này sang kiếp sống khác được giảng rõ ràng trong các giáo lý của Mật thừa. Thực sự là ích lợi và quan trọng để hiểu một số quan niệm Mật thừa về tâm và thể xác của con người. Theo quan điểm Mật thừa, tâm và thân có nhiều mức độ, có một số điều vượt ra khỏi thân và tâm do sự nhận thức và hiểu biết hạn hẹp về chính chúng ta và những chúng sinh khác sống quanh ta. Thân và tâm mà chúng ta nhận thức hình thành một phần nhỏ của bức tranh.

 Có một thân thể vũ trụ vĩ mô, bao hàm tất cả những điều chúng ta nhận biết và trải nghiệm trong nó. Toàn bộ vũ trụ là thân chúng ta vì chúng ta ở trong đó. Nó là thân thể to lớn hơn của chúng ta, và bất kỳ điều gì xẩy ra trong bộ phận nào của vũ trụ này cũng đều tác động tới chúng ta, mặc dầu chúng ta không ý thức đầy đủ về nó như thế nào. Thuật chiêm tinh của Mật thừa có thể ích lợi trong cuộc sống của mọi người, bởi vì đây là phương pháp phát hiện ra những biến cố của vũ trụ này và cách thức giải quyết chúng. Nếu ai đó đặt tay thuộc thân thể vật lý của bạn vào lửa, bạn cảm thấy đau rát. Điều này cũng xảy ra với cơ thể lớn hơn (vũ trụ). Bất kỳ điều gì xảy ra trong bộ phận nào của vũ trụ cũng tác động đến ta. Chúng ta có lẽ trải nghiệm nó như là một tâm trạng tồi tệ, hay ngược lại, một vận may lớn về tài chính của chúng ta hoặc là các mối quan hệ cá nhân, hoặc là sự sa ngã hay tiến bộ của tinh thần. Chiêm tinh có thể xác định những điều đang tiếp diễn trong thiên hà và hệ mặt trời của chúng ta, nhưng các ảnh hưởng vượt ra khỏi đó (hệ mặt trời) cũng tác động vào chúng ta. Trong giáo lý Mật thừa, vũ trụ vĩ mô này được gọi là “ ngàn lần thứ ba” – nghĩa là 100 triệu hệ thống mặt trời.

 “ Ngàn lần thứ hai” nhỏ hơn ngàn lần thứ ba. Nó biểu hiện 1,000 lần của 1,000 hay là một triệu lần. Bất cứ điều gì xảy ra trong phần này của vũ trụ tác động trực tiếp đến chúng ta nhiều hơn các biến cố trong vũ trụ vĩ mô lớn hơn. Những biến cố trong “ngàn lần đầu tiên” – 1,000 hệ mặt trời bao quanh ta trong mọi hướng, tác động vào chúng ta rất mạnh. Những gì xảy ra trong hệ mặt trời của chúng ta sẽ tác động trực tiếp nhất vào chúng ta. Tất nhiên là bất kỳ điều gì xảy ra trên hành tinh (trái đất) của chúng ta thì có ảnh hưởng sâu xa vào chúng ta. Bây giờ chúng ta có thể phân tích về suy thoái môi trường và tác động của nó vào các dạng sống, chúng ta đang trải nghiệm về sự thật này như thế nào. Có các chứng cớ của ngành khoa học về trái đất về các tác động môi trường vào chúng ta, và tác động của chúng ta vào môi trường.

 Sau khi xem xét của các lĩnh vực chi tiết của những biểu thị, các giáo lý Mật thừa còn giải thích về những sự kiện trong cơ thể mỗi cá nhân tác động vào tâm trí như thế nào. Ở mức độ thân vật lý của con người như chúng ta, có một thân bên ngoài, một thân bên trong, và thân vi tế. Thân bên ngoài có thể là tích cực hoặc tiêu cực. Thân bên trong tích cực hơn là tiêu cực. Và thân vi tế là tích cực. Tâm – bản tính phật là hoàn hảo.

 Hơi thở cũng tương tự như các yếu tố này của thân. Thở là hoạt động liên tục. Trong hơi thở có hơi thở ngoài, hơi thở trong, và hơi thở vi tế. Thông qua thiền, trì tụng, thể dục, và các thực hành khác nhau, thân bên ngoài có thể được thanh lọc vì hơi thở ngoài đang được thanh lọc, và các hơi thở trong và vi tế có thể ảnh hưởng tới thân và hơi thở bên ngoài.

 Mối quan hệ vật lý giữa các thân và tâm được khai triển ngay trước khi chúng ta được thụ thai trong người mẹ. Mối kết nối giữa thân đặc biệt và tâm được phát triển chỉ ở khoảnh khắc trước khi thụ thai. Sự hòa trộn vào nhau này giữa tâm phi vật chất và thân vật chất là một trong số bước quan trọng nhất của tiến trình tái sinh.

 Tâm là rất vi tế, nhưng tư tưởng và tình cảm được sinh ra từ tâm lại không vi tế như là bản chất tinh khiết của tâm. Tư tưởng và cảm xúc là hữu hạn, nhưng tâm là vô hạn. Tư tưởng là biểu thị của vô minh, và điều đó khiến tâm trở nên giới hạn. Năng lượng vi tế nhất của vũ trụ là thành phần vi tế nhất của thực thể vật lý. Năng lượng vi tế này cùng với những tư tưởng và cảm xúc của tâm có khả năng kết nối và gắn lại với nhau. Năng lượng vũ trụ vi tế, cùng với tư tưởng và cảm xúc, kết hợp với năng lượng của nghiệp – được gọi là gió hay là khí của nghiệp đi vào thực thể vật lý đầu tiên. Thực thể này được biết như là thân dạng lỏng.

 Dưới những điều kiện bình thường, thân lỏng trở nên đông đặc sau hai mươi chín ngày. Nó đông chậm, nhưng sau hai mươi chín ngày khí nghiệp, năng lượng của vũ trụ, và yếu tố cảm xúc của tâm, tất cả tập trung vào trung tâm của thân lỏng đã đông đặc. Khí nghiệp liên quan đến cha, mẹ và chúng ta. Tất cả những duyên khởi nghiệp đến cùng với nhau. Nó giống như là trung tâm của cơn lốc. Vào thời điểm đó dù chúng ta ở bất cứ nơi nào, ngay cả cách xa 20 triệu thiên hà, thì tâm của chúng ta vẫn sẽ đến với người cha và người mẹ nghiệp duyên của chúng ta, để hợp nhất vào thân lỏng đó. Thân chúng ta biểu hiện thân lỏng đã đông đặc theo các nhân và duyên – đó là nghiệp. Điều này khởi đầu từ điểm được gọi là kinh mạch trung tâm – ở chính giữa thân thể.

 Tất cả các giác quan được tập trung ở trung tâm của thân. Các chi là quan trọng, nhưng chúng không quan trọng đối với sự tiếp tục của cuộc sống. Nếu ai đó cắt rời chân hoặc tay của chúng ta, nếu được chăm sóc tốt thì chúng ta sẽ không chết. Nếu cơ thể bị cắt đôi ở phần giữa, hoặc là đầu bị cắt rời, thì chúng ta sẽ chết. Trung tâm (phần giữa) của cơ thể là quan trọng nhất. Tất cả các kinh mạch đều xuất phát từ đó. Những kinh mạch bên ngoài bao gồm các động mạch, mạch máu, dây thần kinh. Thân vi tế có những kinh mạch riêng của nó mà chúng ta không thể thấy được. Tất cả đều được phát triển qua các chuyển động của khí nghiệp, năng lượng vũ trụ, và cảm xúc.

 Có một ẩn dụ đơn giản. Một đồng cỏ xinh đẹp với nhiều rễ cây có thể ăn được ở dưới đất. Có một gia đình thỏ sống dựa vào đồng cỏ. Hàng ngày những con thỏ đi từ nơi ở của chúng dưới một bụi cây tới đồng cỏ để ăn các rễ cây. Sau một thời gian, dấu chân của chúng tạo ra những lối đi tới tất cả những nơi quan trọng có thức ăn và nước. Cũng như vậy, do năng lượng di chuyển trong thân lỏng, nó cũng phát triển tất cả các mạch và các chi, và tất cả những thứ thích hợp với các chuyển động của nó. Chuyển động lần vết theo hình tướng.

 Các chuyên gia và những người có trực giác có thể đọc được nét mặt, lòng bàn tay, và có khả năng thấy được tương lai, bởi vì những đặc điểm vật lý này là kết quả của toàn bộ tiến trình nghiệp kết nối giữa tâm và thân đối với mỗi cuộc đời riêng biệt.

 Có một cách giải thích đơn giản về làm thế nào tâm không hình tướng lại đi vào hình tướng, tình cảm, giác quan, và vân vân của một thân vật lý. Kiếp trước của một chúng sinh có thể là một thần linh hoặc là một súc sinh, nhưng nó có thể sinh làm người trong kiếp này. Có sinh thì có diệt. Khi tâm thức rời khỏi thân thể thì đó là cái chết. Sự chết là của thân chứ không phải của tâm thức. Tâm thức không chết mà luôn luôn tiếp diễn.

 BARDO

 Cuộc đời của một chúng sinh được tạo thành nhiều giai đoạn, và kết thúc bằng cái chết, sau đó nối tiếp một giai đoạn khác, mà trong tiếng Tạng gọi là bardo. Hiểu biết về bardo là cần thiết để nắm bắt được những quá trình quan trọng của cuộc sống và cái chết của mọi chúng sinh. Cố gắng để hiểu biết về điều này, chúng ta học cách làm thế nào để vận dụng các giai đoạn này như là một phương tiện hướng tới sự tỉnh giác vĩ đại hơn.

 Từ bardo nghĩa là “ở giữa”. Khi bạn nghe về bardo, nếu bạn biết một chút về Phật giáo Tây Tạng, ý nghĩ đầu tiên của bạn về điều này có lẽ là một quá trình tiếp sau cái chết, do những điều có lẽ bạn đã được nghe hoặc được đọc trong các sách, như là cuốn “ Sách Tây Tạng về cái chết” (Tử thư Tây Tạng)”. Trong khi quá trình sau khi chết chỉ là một phần của bardo, thực sự những bài giảng về bardo miêu tả nhiều giai đoạn mà không chỉ giới hạn ở thời gian sau khi cái chết. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã cho những lời dạy về bardo, và từ đó nhiều bậc thầy được học và nhận thức được về nó đã tiếp tục sự truyền dạy này.

 Nói một cách dễ hiểu, bardo mô tả tình trạng trung gian của mọi thứ. Thí dụ, khoảng trống giữa luân hồi và niết bàn, tinh khiết và ô nhiễm, sinh và chết, chết và tái sinh – đó là bardo. Có sáu khía cạnh của bardo mà bao hàm và tóm tắt mọi mặt của quá trình luân hồi và tinh thần. Sáu khía cạnh này là bardo sinh, bardo giấc mơ, bardo thiền định, bardo của khoảnh khắc chết, bardo của chân lý tuyệt đối, bardo vũ trụ hay là bardo sinh thành – đây là bardo kéo dài từ thời điểm của cái chết cho đến thời điểm tái sinh vào kiếp sống khác.

Bardo sinh

 Khi một chúng sinh được tái sinh trong vũ trụ này như là một chúng sinh hữu tình, đó là sự phối hợp cùng nhau của thân, khẩu, và tâm của chúng sinh riêng biệt đó trong vũ trụ. Do một kết quả của huân tập nghiệp bởi chúng sinh đó, ý thức của nó đi vào trong cõi giới riêng biệt của tồn tại. Đó là khoảnh khắc nối kết đầu tiên giữa thân vật chất và ý thức của chúng sinh đó. Sau đó, thân vật lý và tâm thức không hình tướng kết hợp và truyền tin cho nhau. Điều này có thể được giải thích trong sự sinh của con người, mặc dù quá trình này là tương tự đối với mọi chúng sinh. Vì chúng ta là người nên chúng ta có thể hiểu biết hầu hết lời giải thích về kết hợp của sự tồn tại theo quan điểm của loài người. Thân vật lý phát triển phù hợp với năng lực của tâm thức không hình tướng: theo ham muốn của nó, sự vô minh của nó, sự sân hận của nó, sự keo kiệt của nó, sự kiêu ngạo và ghen tị của nó. Loại ý thức mà chúng sinh đã tạo lập sẽ xác định thân vật chất sẽ phát triển của nó – hoặc là nó lành mạnh hay không lành mạnh, phát triển trọn vẹn hay kém phát triển. Một vài chúng sinh là hoàn thiện, nhưng một số khác lại bị méo mó / biến dạng, và đây là các phương tiện mà các chúng sinh hình thành. Đó là một quá trình phức tạp.

 Trong suốt hai mươi chín ngày đầu tiên của thể vật chất bên trong người mẹ, ý thức ở mọi nơi, và thấm vào thể vật chất này. Khi ý thức thâm nhập vào, nó không có thể vật chất nhưng nó liên hệ với thể vi tế nhất – nguyên tố không khí. Năng lượng này hay là thể khí có thể nhận và được thâm nhập bởi ý thức. Khi thể vật chất trở nên đông đặc hơn, thì ý thức không thể di chuyển tự do mọi nơi. Do không thể thâm nhập tự do trong thể vật chất đã rắn hơn, ý thức chuyển vào điểm giữa của thể vật chất đang phát triển. Nó trở thành kinh mạch trung tâm, hay là Tsa uma. Từ kinh mạch trung tâm này, ý thức phát tán ra, và hiển thị trong tất cả các hướng thông qua các trung tâm năng lượng và các kinh mạch phụ trợ – gọi là khorla và tsatrong tiếng Tạng. Từ ngày thứ hai mươi chín cho đến khi đứa trẻ ra đời, thông qua những nguồn này các tác nhân chuyển động, và thể vật chất phát triển phù hợp với nghiệp của nó. Đây là quá trình sinh trưởng của ý thức diễn ra như thế nào. Đứa trẻ ra đời đánh dấu sự phát triển hoàn toàn của mọi vị trí quan trọng của ý thức. Sau khi sinh, đứa trẻ tiếp tục phát triển, nhưng là phát triển nhân tố đã có sẵn. Không có điều gì mới được thêm vào.

 Ở giai đoạn này có sự phối hợp của tâm thức, các giác quan, vũ trụ, của “cái tôi” và hình tướng. Mũi và khứu giác, lưỡi và vị giác, thể xác và va chạm được phối hợp ở các mức độ bên ngoài. Các mức độ bên trong, có sự phối hợp của tâm thức, bản tính phật, và bản ngã, ham muốn, sân, vô minh, ghen tị, và vân vân. Chuỗi này của tâm đã nhận thức và những chướng ngại hoặc là các ô nhiễm liên quan đến mỗi cá nhân, là những thực thể tương đối cơ bản mà cá nhân đó sẽ đương đầu) trong kiếp sống đó. Nó sẽ ảnh hưởng tương lai của cuộc đời. Từ loại nghiệp này mà mỗi cá nhân có thể học hỏi về chân lý tuyệt đối.

 Mặc dù trong các bài giảng của Kim Cương Thừa, mỗi nguyên tử của một thân thể con người có thể được nhìn như là sự bộc lộ của những loại nghiệp này, nhưng các điểm quan trọng là thân, khẩu và tâm. Thân là biểu lộ vật chất, khẩu là sự bộc lộ, và tâm là cốt lõi. Mức độ tối thượng của thân, hay là biểu hiện dạng vật chất, là hóa thân (nirmanakaya). Mức độ tối thượng của lời nói, hoặc là sự bộc lộ, là báo thân (sambhogaya). Sự hiển lộ tối thượng của tâm (dharmakaya) là pháp thân. Đây là chân lý của khía cạnh đầu tiên của bardo, bardo của sự sinh.

Bardo giấc mơ

 Loại thứ hai là bardo giấc mơ. Trọng tâm chủ yếu của bardo này là giúp chúng ta hiểu về vũ trụ, sự sống của chúng ta, toàn bộ kinh nghiệm của chúng ta như là một giấc mơ. Có ba phần của loại bardo này: giấc mơ luân hồi, giấc mơ cuộc đời, và giấc mơ khi ngủ. Giấc mơ luân hồi kéo dài từ vô thủy cho đến khi tỉnh giác tối thượng – đó là quả vị phật. Dù chúng ta thuộc cõi giới nào, dù chúng ta là loại chúng sinh nào, thì chúng ta đều đang trong mơ. Tất cả các giấc mơ đều là hành trình của bản ngã, ngay cả ở động vật, vì chúng đều xuất phát từ cái tôi. Nếu chúng ta là người hay trời, cái tôi cũng vẫn tồn tại. Chúng ta có thể giàu, chúng ta có thể nghèo, chúng ta có thể thuộc các nền văn hóa khác nhau, nhưng luôn luôn có cái tôi. Chúng ta tỉnh thức từ “cái tôi” này khi chúng ta đạt được giác ngộ – quả vị phật. Đó là thời điểm duy nhất chúng ta sẽ được giải thoát hoàn toàn ra khỏi “cái tôi”. Quả vị phật là sự chấm dứt của giấc mơ luân hồi.

 Giấc mơ thứ hai là giấc mơ cuộc đời. Giấc mơ này còn được biết như là giấc mơ của nghiệp. Tùy theo kinh nghiệm của những hành động cá nhân đã tạo tác mà chúng ta trải nghiệm giấc mơ về nghiệp khác nhau. Cùng một điều có thể làm chúng ta hạnh phúc, nhưng cũng làm chúng ta đau buồn; đôi khi chúng ta ghét nó, và đôi khi lại yêu thích nó. Đôi khi nó giúp ích cho chúng ta, như nhưng đôi khi lại gây rắc rối cho chúng ta. Không có gì là chắc chắn cả. Không có gì là “thực” hay là cố định như là sự thật hiển nhiên. Mọi điều đều thay đổi. Cùng là một điều nhưng tác động vào những người khác nhau theo các cách khác nhau. Đó là giấc mơ cuộc đời. Nó khởi đầu khi chúng ta sinh ra, và kết thúc khi chúng ta chết. Giấc mơ khác lại nối tiếp sau đó. Giấc mơ lại tiếp tục chừng nào mà chúng ta vẫn trôi lăn trong sinh tử.

 Giấc mơ khi ngủ là giấc mơ của tiềm thức và là một hoạt động của tiềm thức, loại này sẽ xác định nội dung giấc mơ của chúng ta. Đôi khi chúng ta mơ về tương lai. Đôi khi chúng ta mơ về quá khứ. Chúng ta không mơ về bất cứ điều gì mà không liên quan đến chúng ta bởi bất cứ điều gì ta mơ là về chính chúng ta. Đây là giấc mơ khi ngủ. Chúng ta tỉnh dậy từ giấc mơ vào buổi sáng. Trong lời dạy về bardo, thực hành là để nhận biết các huyễn ảnh và điều không thực của giấc mơ khi ta đang ngủ. Bạn sẽ đạt được tỉnh thức để giấc mơ của bạn không đánh lừa bạn nữa. Bạn có thể điều khiển giấc mơ của bạn thay vì để giấc mơ điều khiển bạn. Khi bạn có được sự giải thoát hoàn toàn trong giấc ngủ mộng của bạn, bạn sẽ đạt được một số giải thoát nhất định trong giấc mơ cuộc đời. Những điều huyền diệu của sự tỉnh thức lớn lao này liên quan tới việc làm chủ của giấc mơ trong khi ngủ.

 Cũng là quan trọng để chúng ta xem xét qua về những điều nhiệm màu này, bởi liên quan tới khả năng điều khiển giấc mơ. Mọi người thường lầm lẫn giữa điều huyền diệu và ảo thuật. Một điều huyền diệu là kết quả của việc đạt tới sự giải thoát tuyệt đối. Trong khi phép ảo thuật chỉ là tương đối, là nghệ thuật thế gian, một loại trình diễn. Nhà ảo thuật làm nhiều điều do biết những mánh khóe cần thiết hoặc là dùng một năng lượng vật chất mạnh mẽ, những lời nói đặc biệt, hay là khả năng tưởng tượng và hình dung. Những công cụ này về cơ bản không đáng tin cậy, vì chúng liên quan đến nỗi sợ hãi và hy vọng. Khao khát để làm một điều gì đó dẫn đến hy vọng để thực hiện nó thành công, và nỗi sợ rằng nó có thể thất bại. Tất cả những thứ này được buộc chặt vào bản ngã, cái “tôi”. Rất thú vị để xem ảo thuật, nhưng về cơ bản nó không làm lợi lạc cho ai cả. Các nhà ảo thuật có lẽ cũng đầy đau khổ, sân hận, ham muốn, vô minh, mọi điều, nhưng sự phi thường của họ là họ biết kỹ xảo (để làm nhiều điều). Điều duy nhất chúng ta có thể học từ ảo thuật – nó chứng minh cho chúng ta rằng vòng sinh tử là huyễn ảnh. Bởi vì vậy nó mới được trình diễn bởi ảo thuật. Không có huyễn ảnh, thì không có gì như là ảo thuật có thể thực hiện được. Đó là một mánh khóe, nghệ thuật của huyễn ảnh.

 Điều huyền diệu thực sự là giải thoát. Không có gì liên quan đến bản ngã. Bản ngã càng giảm đi, thì điều huyền diệu càng sâu sắc hơn. Nhiều người trải nghiệm sự huyền diệu, nhưng họ lại không nhận ra. Điều huyền diệu đơn giản là những lời dạy sâu sắc của Đức Phật có thể thay đổi một chúng sinh đang đau khổ hoặc bị dầy vò bởi tội lỗi trở thành chúng sinh tử tế nhất chỉ trong một khoảnh khắc có sự hiểu biết đúng đắn. Sự huyền diệu này của Pháp có thể thay đổi thế giới từ một nơi nhiều lo âu thành một nơi thanh bình. Bước đầu tiên là cần hiểu đúng và hành động đúng: đó là lòng từ bi hướng về nhau như là những anh, chị em của nhau. Nếu sự thực hành như vậy đã được chấp nhận bởi cả thế giới, thì bạo lực và chiến tranh đã không thể xảy ra. Tôn trọng những cách thức cơ bản của mối tương quan như vậy có thể tạo ra một điều huyền diệu – đó là có thể đem lại hòa bình cho toàn bộ thế giới. Nếu các chúng sinh có khả năng hiểu biết và chấp nhận điều này, hơn là nghĩ về một điều huyền diệu đang xảy ra đâu đó, thì họ không cần bất kỳ nỗ lực về phía họ, họ đã đạt được giải thoát. Họ đạt tới giải thoát trong giấc mơ cuộc đời trong cùng một cách họ có thể có sự giải thoát trong giấc mơ khi ngủ.

 Trong giấc ngủ bạn mơ thấy lửa. Bạn nhận ra bạn đang mơ, bạn biết bạn đang ngủ trong phòng không có lửa. Bạn nhìn thấy tay của mình trong giấc mơ, nhưng tay của bạn là tay trong giấc mơ, không phải là tay thực của bạn. Nếu trong giấc mơ bạn đặt tay của mình lên lửa trong năm giờ, thì các ngón tay của bạn cũng không bị đốt cháy. Đó không phải là ảo thuật, mà là một loại của sự huyền diệu xảy ra khi bạn biết cách điều khiển tình trạng trong giấc ngủ mộng của bạn. Khi quá trình này được thực hiện trong giấc mơ cuộc sống, thì nó cũng là một điều huyền diệu và được thực hiện theo cách thức tương tự. Những điều huyền diệu của các đạo sư vĩ đại trong quá khứ đã được thực hành theo cách này. Các đạo sư này đã giải thoát bởi vì họ nhận thức được bản chất tuyệt đối của mọi sự vật. Đối với họ, những người đã đạt sự giải thoát như vậy, thì không có gì gây trở ngại cho họ, họ không hy vọng hay sợ hãi, họ đã được tháo gỡ, và đó là tại sao họ có khả năng thực hiện những điều huyền diệu. Những điều huyền diệu là vô hạn, và khi một người điều khiển được giấc ngủ mơ, rồi đến giấc mơ cuộc đời, đó là sự khởi đầu để làm chủ giấc mơ sinh tử luân hồi. Toàn bộ sự tiến triển của giải thoát và thức tỉnh khỏi giấc mơ luân hồi được biết như là quả vị phật.

Bardo thiền định

 Loại thứ ba là bardo thiền định, và có thể được phân làm ba loại: thiền định thân, thiền định khẩu, và thiền định tâm. Trạng thái thiền trong tiếng Tạng được gọi là samten, nghĩa là “tâm ổn định” , và mỗi khía cạnh này là một loại của samten.

 Cách ngồi đúng là thân samten (thiền thân). Sự ổn định của thân sẽ phát triển trạng thái thiền định một cách tự nhiên. Một thí dụ về ngôi chùa, để xem xét tầm quan trọng của sự chuẩn bị thân thích hợp và tác động của nó vào trạng thái tâm. Khi chúng ta đi tới chùa, chúng ta nhận thấy mọi thứ xung quanh đều yên tĩnh, bên trong ngôi chùa thì sạch sẽ, hình ảnh đức Phật đẹp đẽ. Sự giản dị mang lại cảm giác thanh thản tự nhiên cho bất kỳ ai đến chùa. Cũng như vậy, chuẩn bị để giữ thân thích hợp cũng cho ta sự yên tĩnh và giúp ích cho trạng thái thiền định. Thân là ngôi đền của tâm. So sánh với ngôi chùa, nơi hoàn toàn trái ngược là một phòng nhảy disco với đầy tiếng nhạc ầm ĩ và ánh đèn màu, và mọi người nhảy nhót. Nó kích động mọi người và phá vỡ sự yên tĩnh bên trong của họ.

 Cách ngồi đúng là hai chân bắt chéo nhau, lưng thẳng, đây không phải chỉ là một đặc trưng văn hóa riêng của Phương Đông, mặc dù ở phương Tây, khi Phật giáo bắt đầu truyền bá sang, nhiều người có khuynh hướng xem nó là kiểu ngồi của người phương Đông, vì đây không phải là thói quen của họ, và khá là khó khăn đối với họ. Hiệu quả của tư thế này là dựa trên phối hợp của thân, khẩu và tâm. Tư thế ngồi đúng hỗ trợ kinh mạch trung tâm là nơi tâm điểm của năng lượng sống của chúng ta. Để tâm được yên tĩnh trong trạng thái thiền định, thì mọi thứ phải theo đúng trình tự; khi đó yên tĩnh sẽ đạt được dễ dàng. Hầu hết mọi người đều nhất trí rằng, khi ăn thì tư thế tốt nhất là ngồi thẳng. Nếu bạn nằm trên giừơng để ăn có thể có hại cho sức khỏe của bạn, vì bạn có thể bị nghẹt thở do cách ăn đó, và cũng không tốt cho tiêu hóa. Khi bạn ngủ, bạn phải nằm xuống. Nếu bạn ngủ đứng bạn sẽ bị ngã và khiến bạn bị đau. Ngủ ngồi trong ghế cũng không phải là cách nghỉ ngơi thoải mái, thuận tiện. Tương tự như vậy, tư thế thiền đúng là tư thế tự nhiên dẫn tới thiền định. Áp dụng tư thế này để phát huy trạng thái thiền định là thiền thân.

 Thiền khẩu là nói những lời thích hợp. Tất cả những lời cầu nguyện, đọc tụng, và niệm chú đều có nhiều mức độ về ý nghĩa. Một số chỉ là những câu nói bình thường, một số khác lại là những câu nói biểu tượng, và tất cả có thể được gọi là những lời nói của thiền khẩu. Chúng ta đã giảng giải về điều gì có thể suy tư khi nói những lời cầu nguyện phát khởi bồ đề tâm. Với thân thể ngồi trong tư thế hợp lý nhất, và lời nói cũng bộc lộ sự sâu sắc nhất, đây là sự nối kết tích cực quan trọng cần được phát huy. Nếu chúng ta nói với ai đó “ tôi tôn trọng bạn”, người đó cảm thấy vui. Nhưng nếu ta nói “ tôi ghét bạn”, dĩ nhiên là người ấy cảm thấy khó chịu. Đây là một ví dụ về năng lực mà lời nói có thể tạo ra. Một người hát một bài hát hay và giọng cũng hay sẽ làm bạn thấy dễ chịu và có thể khiến bạn trầm tĩnh lại. Nhưng nếu một người hát dở và bộc lộ nhiều tiêu cực trong bài hát, điều này có thể khiến bạn thấy khó chịu. Cũng như so sánh âm thanh của tiếng chuông chùa trong trẻo được gõ trong phòng thờ yên tĩnh với âm thanh tiếng cạo của các móng tay trên bảng đen. Đây là tác động của âm thanh. Nói những lời tốt đẹp trong cách đúng đắn là thiền khẩu.

 Thiền tâm liên quan đến những suy nghĩ đúng đắn. Tâm nghỉ ngơi trong yên tĩnh. Nó được nghỉ ngơi trong trạng thái tự nhiên, luôn đưa suy nghĩ từ bi và yêu thương hướng tới những chúng sinh khác. Suy nghĩ theo cách này dẫn đến việc tỉnh thức được chân lý tuyệt đối. Có sự thành tâm và tin tưởng vào những người đã đạt được quả vị phật, và tin vào những lời dạy của Đức Phật, các bồ tát, và những đạo sư đã tỉnh giác là sẽ có được quan điểm đúng đắn, cách thức đúng đắn, và sự hướng dẫn đúng đắn.

 Để có thể thiền thân, khẩu, và tâm thích hợp, bạn phải thực hành không chỉ khi bạn ngồi thiền, mà cả khi bạn đi, khi bạn làm việc, khi bạn ăn, khi bạn nấu, khi bạn nói chuyện với người khác, khi bạn ngủ – nghĩa là mọi lúc. Có một cách tốt hơn để thực hành và để cải thiện việc thiền của bạn. Chúng ta cải thiện bằng cách có chánh niệm và tỉnh giác. Vì vậy, bardo thiền là trạng thái thiền ổn định bao hàm thân, khẩu và tâm. Mở rộng trạng thái thiền sau cả thời gian ngồi thiền chính thức, giữ trạng thái thiền ổn định ngay cả trong các hoạt động hàng ngày, đây là thực hành có thể trợ giúp để chuẩn bị cho những thời điểm đầy thách thức, lớn lao khi chuyển tiếp giữa các kiếp sống – thời điểm chết.

Bardo của thời điểm cái chết

 Trước khi chúng ta nhận thấy chính ta ở bardo của khoảnh khắc chết, thì chúng ta nên chuẩn bị cho việc này. Nếu chúng ta đợi cho đến khi thời điểm của cái chết xuất hiện, lúc đó mới chuẩn bị về tâm thức thì khi đó quá muộn. Chúng ta có thể chuẩn bị sớm, bất cứ khi nào có thể để làm những việc lợi ích và có ý nghĩa, và tránh làm những việc vô nghĩa và gây hại. Theo cách này, công đức được tích tụ ở bên ngoài, và trí tuệ được tích tụ bên trong. Bất cứ khi nào chúng ta có thể tinh tấn và cải thiện, thì chúng ta phải nắm lấy cơ hội để thực hành. Tất cả chúng ta sẽ chắc chắn phải đối mặt với thời điểm của cái chết vào một ngày nào đó, và đó là sự kiện quan trọng nhất trong cuộc đời của chúng ta. Không có gì đảm bảo rằng chúng ta những người đang đọc những dòng này sẽ còn sống khoảng 100 năm nữa. Tất cả chúng ta đều sẽ chết. Rất ít những em bé hiện nay đang trong bụng mẹ sẽ còn sống sau một thế kỷ. Chúng ta sẽ chết, và chúng ta phải đối diện với thực tế này một cách thành thật. Hầu hết chúng ta đều không biết được khi nào chúng ta sẽ chết.

 Thời điểm của cái chết là rất quan trọng, bởi vì đó là khoảng thời gian chuyển tiếp từ kiếp sống này sang giai đoạn kế tiếp để dẫn đến kiếp sống tiếp theo. Sự phán xét về chúng ta sẽ dựa trên cơ sở nghiệp của chúng ta, những nhân và duyên mà chúng ta đã tạo ra thông qua các tư tưởng và hành động của chúng ta trong quá khứ, chứ không phải của ai khác. Nếu chúng ta có hiểu biết rõ ràng và có một cơ hội tốt, chúng ta có thể tích tụ công đức và tịnh hóa những nghiệp xấu trước đây vào thời điểm đó. Chúng ta có thể làm điều này vào thời điểm của cái chết tốt hơn là ở bất cứ thời gian nào khác. Ngay bây giờ chúng ta có thể cầu nguyện, thiền định, phát khởi bồ đề tâm, và làm nhiều điều thiện với một lượng thành tâm, tịnh hóa, tin tưởng và sức mạnh nhất định, nhưng vào thời điểm của cái chết, tiềm năng của những thứ này được nhân lên rất to lớn nếu chúng ta được học hỏi làm thế nào để suy nghĩ rõ ràng, hồi hướng công đức, và tận dụng cơ hội đặc biệt này. Vào lúc chết, một ý nghĩ rất ngắn có năng lực hơn cả nhiều năm suy nghĩ trong toàn bộ cuộc đời. Đó là lý do tại sao để nhận thức rõ rằng bạn đang ở trong những thời điểm cuối của cuộc sống lại rất quan trọng như vậy, rằng bạn còn sống và đang đối mặt với sự kiện quan trọng nhất của kiếp sống đó vì mục đích tinh tấn hơn nữa của bạn. Vì vậy đó là thời điểm rất then chốt, và biết về các yếu tố sẽ làm xáo trộn tâm trí là hữu ích cho chúng ta.

 Có ba điều sẽ làm xáo trộn tâm trí chúng ta vào thời điểm của cái chết là danh tiếng, tài sản, và các mối quan hệ của chúng ta. Sự bám víu vào danh, tài sản, hay là người thân mà chúng ta sẽ phải chia lìa là chướng ngại lớn nhất để giữ tâm trí trong sáng. Khi thời điểm cái chết đến, chúng ta phải sẵn sàng để thoát khỏi mọi thứ. Chúng ta phải nhận thức rằng chúng ta không cần những thứ này nữa, và ngay cả chúng ta có nắm giữ tiền trong tay, thì cũng không thể đem theo, vì tiền bạc sẽ nằm trong bàn tay lạnh lẽo của chúng ta, và vô dụng. Danh tiếng cũng vậy. Sau một cáo phó ngắn trong trang sau của một tờ báo, chúng ta sẽ bị lãng quên. Những người chúng ta thân cận sẽ tiếp tục cuộc sống của họ và gánh vác nó không có chúng ta. Sự chuẩn bị quan trọng nhất cho thời điểm chết là làm mọi điều với khả năng tốt nhất của chúng ta trong cuộc đời, để chúng ta không có gì phải nuối tiếc, không hành động nào khiến ta cảm thấy tiếc, tội lỗi, hoặc là hổ thẹn. Chúng ta phải có những cảm xúc đơn sơ vào thời điểm chết. Và để có được những cảm xúc này chúng ta phải chuẩn bị trước bằng cách làm bất cứ điều gì có ý nghĩa trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Chúng ta có thể sử dụng tài sản vật chất, tiếng tăm, hay là chức vụ, hay là chúng ta có thể thực hiện những hành động lợi lạc riêng tư vì chúng sinh khác. Sau khi làm những việc thiện, chúng ta hồi hướng công đức cho sự lợi lạc của tất cả chúng sinh, và mong muốn chân thành rằng mọi chúng sinh sẽ thoát khỏi những khổ đau của luân hồi – Bánh xe Cuộc đời. Và chúng ta cũng cầu nguyện rằng, theo khả năng của mình, chúng ta có thể được tái sinh trong cõi người, vun trồng đức hạnh nhiều hơn, và có thể đạt được sự tỉnh giác về chân lý tuyệt đối. Chúng ta cũng có thể cầu nguyện được tái sinh trong cõi Cực lạc, Tịnh độ Sukhavati – nơi mà chúng ta được chỉ dẫn con đường đi đến giác ngộ bởi một vị Phật là hiện thân của trí tuệ.

 Một người có thể dâng hiến bất kỳ điều gì mà người đó có khả năng dâng hiến. Nếu bạn có đủ khả năng cầu nguyện chân thành “ Nguyện tôi sẽ vào địa ngục để giúp đỡ tất cả chúng sinh ở đó, cho đến khi họ thoát khỏi địa ngục, và tôi có thể còn ở lại đó”, thì đây là điều tốt nhất nên làm. Dù vậy, điều chính yếu là làm điều gì bạn có thể, và làm với khả năng tốt nhất của bạn.

 Vào thời điểm của cái chết, có một thực hành đặc biệt cần làm, cái này được biết như là sự di chuyển của tâm thức, hay làphowa trong tiếng Tạng. Để có khả năng thực hiện điều này đòi hỏi phải rèn luyện đặc biệt một thời gian. Hoàn thành thực hành này một cách thành công thì tâm thức sẽ giải thoát được không bị tái sinh vào các cõi giới thấp hơn.

Bardo của bản chất tối thượng

 Bardo của bản chất tối thượng là cốt lõi cao quý nhất của Kim Cương Thừa. Mọi thứ trong toàn vũ trụ là một biểu thị của bản chất tối thượng. Mọi sự vật nói với bạn về bản chất tối thượng, mọi sự vật cho bạn thông điệp, mọi sự vật đang chỉ cho bạn thấy sự vô thường. Bạn bè đến với nhau, nói chuyện, và tận hưởng thú vui bạn bè với nhau, nhưng khi cuộc gặp kết thúc thì họ lại phân tán. Một vị vua xây một cung điện, nhưng ngay khi ông ta hoàn thành cung điện và cảm thấy mãn nguyện về sự hoàn thành của nó, thì cung điện cũng bắt đầu hư hoại. Chắc chắn theo thời gian, cung điện rồi sẽ bị suy tàn và sụp đổ. Một đứa trẻ mới sinh khiến chúng ta vui mừng vì có thêm một thành viên mới trong gia đình, nhưng trong tương lai rồi đứa trẻ cũng sẽ chết, vì có sinh thì phải có chết. Vào buổi sáng chúng ta nhìn thấy mặt trời mọc. Đây là sự khởi đầu của một ngày. Nhưng mặt trời sẽ lặn sau núi, và bóng tối trùm xuống. Những hiện tượng này luôn đến và sẽ đến. Đó là bản chất thực của mọi sự vật và hiện tượng. Hiện tượng của sự sống nói cho bạn biết rằng mọi thứ đều là không, mọi thứ là vô thường, mọi thứ chỉ là hiển lộ tạm thời – nhưng về cốt lõi thì nó là tuyệt đối, là bản chất phật. Nhận thức ra điều này để có thể tận dụng đầy đủ giá trị của cơ hội đang hiện diện trong từng khoảnh khắc của cuộc sống chúng ta, đó là bardo của bản chất tối thượng.

Bardo sinh thành

 Loại bardo thứ sáu và cuối cùng là khá thân thuộc với nhiều người – những người đã nghe về bardo này. Nó là trạng thái giữa cái chết của cơ thể này trong cuộc sống này, và sự tái sinh trong kiếp sống tiếp theo. Khi bất kỳ chúng sinh thuộc bất kỳ cõi giới nào chuyển từ kiếp sống hiện tại vào trạng thái trung gian, thì độ dài của thời gian trong trạng thái trung gian và loại trải nghiệm mà chúng sinh ấy có hoàn toàn phụ thuộc vào nghiệp của chúng sinh ấy.

 Bardo sau khi chết, giữa cái chết và sự thụ thai vào một thể xác mới, là một phần quan trọng của quá trình tái sinh. Nhiều bài giảng đã dạy về điều này, như là kinh mật thừa có tên “ Giải thoát bằng Sự lắng nghe”. Kinh này và nhiều kinh mật thừa khác đã giải thích về quá trình sau khi chết. Giai đoạn này là đặc biệt quan trọng đối với con người, và đó là một bài giảng cho con người.

 Bardo sau khi chết bắt đầu ở thời điểm của cái chết và kết thúc vào thời điểm thụ thai trong sự tái sinh tiếp theo. Giai đoạn bardo này tối đa là bốn mươi chín ngày. Tối thiểu có thể là một phần giây, nhưng dài nhất là bốn mươi chín ngày. Vấn đề này được nói rõ trong các kinh điển và được áp dụng cho mọi người sống trên trái đất của chúng ta.

 Quá trình chết là quá trình đảo ngược của quá trình thụ thai. Chúng ta đi ra khỏi cơ thể cùng với cách mà chúng ta đi vào đó. Mọi điều xảy ra khi chúng ta đi vào cũng xảy ra tương tự như khi chúng ta đi ra khỏi thể xác. Cách duy nhất bạn đi ra khỏi nhà mình là đi qua cửa, cùng với cách mà bạn đi vào. Nếu là một cái chết bình thường và dễ chịu, không phải là chết vì tai nạn hay bất cứ loại nào tương tự như vậy, thì dấu hiệu đầu tiên rằng cái chết đang đến là khi yếu tố đất của người này tan vào trong đất của vũ trụ. Vào thời khắc đó, người ta cảm thấy cực kỳ nặng và không thể chuyển động. Khi đó yếu tố khí tan vào khí của vũ trụ, do vậy cảm thấy khó thở. Tất cả những dấu hiệu này cho chúng ta biết rằng sự sống đang rời bỏ thể xác. Yếu tố đất tan vào đất vũ trụ, khí tan vào khí vũ trụ, nước tan vào nước vũ trụ, và lửa tan vào lửa vũ trụ, là những dấu hiệu cho từng giai đoạn. Cái chết là sự hút các yếu tố vật chất của chúng ta vào trong các yếu tố của tự nhiên.

 Tất cả cảm giác, tình cảm, và sau cùng là hình tướng vật lý đã phát triển sau khi tâm thức đã kết nối với cơ thể ở giai đoạn thụ thai trở lại nơi mà chúng đã đến. Đầu tiên là các chi trở nên lạnh và mất cảm giác. Trung tâm của cơ thể vẫn ấm, vì vậy, tâm điểm tràn vào giữa. Bên trong kinh mạch trung tâm, các năng lượng tích cực và tiêu cực của vũ trụ thể hiện trong những màu sắc tương phản là trắng và đỏ. Lúc đó có thể nói tâm trí rất yếu ớt, mờ nhạt, cơ thể và tâm trở thành không có ý thức. Đó là khoảnh khắc của sự hấp thu cuối cùng.

 Cái chết và các giai đoạn sau khi chết là sự thay đổi đột ngột sâu sắc trong trải nghiệm của chúng ta. Đây là lý do tại sao chúng ta không nhớ được những gì đã xảy ra trong các kiếp sống trước. Nó giống như một vụ nổ rất lớn dẫn đến mất trí nhớ.

 Nếu bạn có lòng thành tâm trong sáng và lòng từ tinh khiết, nếu bạn là một thiền giả rất lão luyện, và nếu bạn có thể tỉnh giác về trạng thái ở thời điểm quyết định này, bạn sẽ có một cơ hội thực sự ở thời điểm của cái chết để đạt giác ngộ, bởi vì vào khoảnh khắc đó bạn được thoát khỏi hoàn toàn mọi nối kết nghiệp của đời sống này. Thời điểm va chạm và yếu ớt đó có thể trở nên giác ngộ, bởi vì chỉ có phật tính của bạn ở đó, nếu bạn có thể nhận ra nó. Nếu một người không có lòng từ hay là sự thành tâm, thông thường người đó sẽ sợ, hoặc là có thể giận dữ hay là bực bội, và rồi, dĩ nhiên cơ hội này sẽ bị mất đi. Cái chết tốt nhất là chết tự nhiên và là cách chết thích hợp, bởi vì giúp tâm thức dễ dàng hơn và không bị sợ hãi, tham lam, sân hận, hay bực bội. Thiền và những thực hành ích lợi khác có thể giúp chúng ta nuôi dưỡng sức mạnh của tâm thức. Chúng ta không phải lãng phí cái chết tự nhiên của mình. Đối những thiền sư vĩ đại – những người tỉnh giác và không sợ hãi, có sự rèn luyện tâm thức, thì đây là cơ hội của cả một cuộc đời – cơ hội cho sự giác ngộ. Giai đoạn ban đầu này có thể dài hoặc ngắn. Nó có thể là ba ngày, hoặc ngắn như một khoảnh khắc. Điều này tùy thuộc vào từng cá nhân. Giai đoạn đặc biệt này của bardo được gọi là trạng thái ánh tịnh quang đầu tiên.

 Ánh tịnh quang thứ hai xảy đến khi bạn thức tỉnh từ trạng thái bất tỉnh. Thời điểm này mỗi cá nhân có cơ hội để sinh vào cõi Tịnh độ. Trong các giáo lý của Kim Cương Thừa, sự thực hành tái sinh về cõi Cực lạc có các mức độ bên ngoài, bên trong, và bí mật. Đây là cõi phật, cho nên đối với tâm thức bình thường như chúng ta thì không dễ dàng để hình dung, nhưng đó là nơi các chúng sinh có thể chọn lựa sự sinh. Để dễ hiểu hơn, chúng ta có lẽ nên hình dung nó như là thể vật lý bên ngoài tái sinh vào cõi Tịnh độ. Khi bạn tỉnh thức từ trạng thái bất tỉnh sau cái chết, do sự hồi hướng và từ bi của mình mà bạn có thể đạt được quả vị bồ tát đầu tiên bằng cách sinh vào cõi Tịnh độ của Đức Phật A di đà, là một trong năm vị Phật Dhyani của Gia đình Hoa sen (Lotus family). Có nhiều cõi giới thanh tịnh mà một chúng sinh trong đó có thể thành một vị bồ tát, và cõi Tịnh độ của Đức Phật A Di Đà là một trong số đó. Và cũng có mức độ bên ngoài, bên trong, và bí mật như đã lưu ý. Nếu bạn có khả năng được sinh vào mức độ bên ngoài của cõi Tịnh Độ A Di Đà như là một bồ tát cấp sơ địa ngay khi bạn tỉnh thức từ cơn choáng của cái chết, nếu như bạn đã gieo các nhân tốt, và tích tụ đủ công đức.

 Nếu một cá nhân không đạt được giác ngộ ở trạng thái ánh tịnh quang đầu tiên, hoặc không được sinh như một vị bồ tát ở cõi Tịnh Độ A Di Đà, thì tâm thức của người này sẽ đi ra ngoài cơ thể, bởi vì kết nối nghiệp với thân vật lý và tâm thức đã kết thúc. Vì tâm thức đi ra ngoài, nên người này sẽ đi vào giai đoạn bardo thứ hai. Giai đoạn bardo thứ nhất bao gồm hai trạng thái ánh tịnh quang thứ nhất và thứ hai. Sau đó, giai đoạn bardo thứ hai bắt đầu – là giai đoạn ở giữa khi rời bỏ thân xác và sự tái sinh tiếp theo.

 Hiện tại, ta đang sống trong một thân xác, các giác quan và tâm thức hoạt động thông qua cơ thể vật lý tạo thành bởi các nhân – duyên nghiệp của chúng ta. Chúng ta có thể nghe từ hai tai, chúng ta có thể ngửi từ mũi, chúng ta có thể thấy phía trước, và hai bên trong một khoảng cách nhất định, và nếu chúng ta muốn nhìn đằng sau, chúng ta phải quay người lại. Trong suốt giai đoạn bardo thứ hai, mọi thứ trở nên sống động, đường vào đến từ mọi nơi. Bạn không bị giới hạn bởi tai vật lý, và có thể nghe thấy mọi thứ. Tất cả các giác quan thoát khỏi thân xác vật chất hữu hạn. Hiện tại, những thứ chúng ta nghe, thấy, va chạm, vị giác là phụ thuộc vào các bộ phận giác quan. Đường vào và những trải nghiệm cũng tập trung vào đó. Nhưng vào giai đoạn bardo thứ hai, không có sự giới hạn như vậy, vì vậy toàn bộ là âm thanh và ánh sáng. Mọi thứ đều trở thành âm thanh và ánh sáng, giống như một vụ nổ lớn không bao giờ ngừng lại.

 Theo các kinh điển như là Kinh Sự giải thoát Vĩ đại và kinh mật thừa như là Giải thoát bằng Sự Lắng nghe, ở giai đoạn bardo thứ hai, nếu bạn nhận ra rằng bạn đã chết, và bạn đang ở trong trạng thái bardo, và rằng tất cả âm thanh và ánh sáng, và biểu hiện này chỉ là một phần của bạn, và đó là nghiệp của bạn, ý thức của bạn đang biểu lộ, và nếu bạn có khả năng quan sát phật tính, hoặc là ngay cả bạn có khả năng tập trung vào bất kỳ vị phật hay bồ tát nào, bạn có thể được giải thoát vào thời điểm đó rất dễ dàng. Đức Phật nói rằng việc nhận biết điều đó cũng đủ cho giải thoát.

 Nói chung, đối với những người bình thường không tạo công đức và không có thực hành tốt, sẽ rất khó khăn cho họ để nghĩ bất kỳ điều gì vào lúc đó, và trong trường hợp xấu nhất trải nghiệm của họ có lẽ là cảnh tượng kinh hoàng nhất có thể hình dung được. Điều này có thể so sánh với sự rơi từ máy bay với độ cao 50,000 feet. Lúc đó bạn chỉ có một mẩu giấy và một cái bút lông và phải thực hiện bức họa thư tốt nhất của mình trước khi chạm đất. Điều đó rất khó. Đối với những người có lòng thành tâm thanh tịnh và lòng từ trong sáng, khi ở trong hoàn cảnh như vậy, có lẽ họ không thể nhớ nhiều về điều gì cần làm, nhưng nếu họ nhớ tới Phật A Di Đà hay là bất cứ vị phật hay bồ tát nào cũng có thể giúp họ rất nhiều. Do vậy, việc thực hành trong một kiếp sống là cực kỳ quan trọng, vì để chuẩn bị cho thời điểm chuyển tiếp này. Đối với những người thực hành chuyên cần khi họ còn sống, thời điểm cái chết đến và giai đoạn bardo này đạt được, nếu nỗi sợ hãi xuất hiện thì nó sẽ nương vào lòng thành tâm và lòng từ của họ. Và đó là một cơ hội to lớn.

 Sau giai đoạn này, một người sẽ nổi ra từ mọi ánh sáng và âm thanh, và phát triển một nhân dạng được gọi là bardo cơ thể. Trong thời điểm gần nhất với kiếp sống trước, thì bardo chứa đầy những tình cảm, suy nghĩ, và nhận thức của kiếp sống đó. Giai đoạn ở giữa này là không rõ ràng và nhiều chướng ngại. Nửa sau của giai đoạn này chứa đầy những cảm giác của kiếp sống kế tiếp vì các cảm giác của kiếp trước đã lu mờ. Khoảng thời gian nằm giữa của giai đoạn này có một khoảng vừa có một ít của quá khứ và một ít của tương tai. Nếu một người là nam giới trong kiếp sống này, thì sẽ trở thành phụ nữ trong kiếp sau, và khoảng giữa đó sẽ là cái ngưỡng cảm xúc, tinh thần và vật chất của sự hiển lộ thân vật lý khác nhau. Nếu bạn đưa ra một thí dụ như là một người và một động vật, thì cũng có giai đoạn ngưỡng ở giữa. Đó là một bardo nhỏ khác ở giữa, và ở đó có chút hỗn độn, nhưng nó vẫn trao một cơ hội khác cho sự giải thoát lớn lao.

 Trong suốt thời gian chuyển đổi từ kiếp trước sang kiếp sau, nếu những người bạn và gia đình cầu nguyện và có nhiều hành động tạo công đức với lòng hồi hướng thành tâm và niềm tin mạnh mẽ, thì người chết trong cõi bardo sẽ được tác động rất lợi lạc, theo năng lực nghiệp của người đó. Khi một người đang ở trong bardo, người ấy có thể nghe những lời giảng như khi còn sống. Nếu có đủ khả năng để hiểu được, những lời giảng sẽ được tiếp thu và có thể đạt được một mức độ tỉnh thức. Vào giai đoạn bardo, những lời cầu nguyện có thể có ảnh hưởng tốt đẹp tới người chết, vì trạng thái bardo là rất trong sáng không bị những chướng ngại của thân và khẩu. Chỉ duy nhất có tâm thức là còn giữ ý thức với nghiệp và những điều bất thiện của nó. Chính tâm thức dễ tác động vào nhất lúc đó. Vì vậy, những người thân thuộc còn sống có trách nhiệm và cơ hội để làm lợi lạc người quá cố bằng những lời cầu nguyện của mình. Đó là lòng yêu thương rất quan trọng đối với người thân đã mất.

 Giai đoạn thứ ba của bardo là giai đoạn cuối cùng của bardo sau khi chết và trước khi tái sinh. Vào giai đoạn đó trải nghiệm về âm thanh và ánh sáng chói chang trở lại, chỉ trước khi đi vào lại sự tái sinh, vào thời điểm chuyển từ giai đoạn bardo sang giai đoạn sống, thì toàn bộ mọi trải nghiệm về sự sống và sự chết được lặp lại. Các kinh điển mô tả những biểu thị được trải nghiệm ở ngưỡng này như là những nữ thần hòa bình và phẫn nộ, những ánh sáng đó biểu thị cho các cõi giới sinh khác nhau, và vân vân. Nếu một người có sự tinh tấn lớn lao thì họ cũng có cơ hội để đạt được giải thoát ở thời điểm này. Nếu có lòng từ và thành tâm mãnh liệt, tâm thức không bị lấn áp bởi các hiển thị của tất cả hiện tượng bardo, người này vẫn có thể chọn được sự tái sinh vào khoảnh khắc đó – nếu có lòng từ bi, thành tâm, nhận thức và tỉnh giác mạnh mẽ. Nếu không thì luồng gió nghiệp sẽ đưa bạn vào nơi nghiệp của bạn sẽ tái sinh. Đó là cơ hội cuối cùng trong chừng mực mà giai đoạn bardo có thể thực hiện. Sau đó trạng thái bardo sẽ qua đi.

 Bardo sinh thành là kết nối giữa một kiếp sống này và kiếp sống kế tiếp. Quá trình bardo này là một quá trình tái sinh. Khi bạn được tái sinh trong kiếp sống tới thì đó là quá trình tái sinh sẽ hiển thị thân vật chất. Vì vậy giai đoạn này là cực kỳ quan trọng, và các bài giảng Phật giáo luôn khuyến khích một người chuẩn bị cho thời điểm đó. Nếu bạn không đạt được giác ngộ trong kiếp sống này, thì ít nhất bạn hãy chuẩn bị cho thời điểm đó – vì đây là cơ hội tốt nhất để đạt được giác ngộ. Ngay cả nếu một người không được giải thoát ở thời điểm ánh sáng đầu tiên, thì vẫn còn cơ hội lớn hơn cho sự tái sinh tích cực và thích hợp trong kiếp sống tương lai nếu người này có sự tích tụ nghiệp tốt và thực hành từ kiếp sống này. Cái chết là một kết quả bình thường của sự sinh ra (có sinh thì có diệt), vì thế chúng ta nên biết tận dụng thích hợp khi nó xảy ra.

 Có một số điều muốn nhắc nhở những người đang tu tập và muốn thực hành để chuẩn bị cho các giai đoạn bardo. Điều quan trọng luôn luôn các bạn phải nhớ đó là tính vô thường. Chúng ta không bao giờ biết khi nào chúng ta sẽ chết. Các bác sĩ có thể cho chúng ta một sự ước đoán, nhưng chúng ta không thể biết chắc chắn, vì vậy cái chết có thể đến bất ngờ. Hiểu biết rõ về sự vô thường sẽ giúp chúng ta rất nhiều trong việc sẵn sàng cho thời điểm chết. Khi nó đến ta sẽ ít bị sốc, sợ hãi và kháng cự. Nếu chúng ta nhận thức sâu sắc về tính vô thường, những trạng thái tiêu cực của tâm thức sẽ không diễn ra, bởi lẽ chúng ta biết rằng cái chết sẽ đến, ngay cả nếu chúng ta không thích thì việc phàn nàn cũng không giúp được gì. Bạn nên chấp nhận cái chết để có thể tận dụng nó một cách thoải mái và chính xác, bạn đừng giận dữ và để sự giận dữ ảnh hưởng bạn vào thời điểm hết sức quan trọng này. Hãy luôn luôn nhớ mọi thứ đều vô thường.

 Một số người nghĩ rằng nhớ về tính vô thường khiến họ không tổ chức được công việc hay là không tốt cho việc kinh doanh của họ. Điều đó không đúng. Họ có thể là những nhà kinh doanh giỏi nếu họ luôn nhớ theo cách hiểu đúng đắn về vô thường. Luôn luôn là tốt cho bạn nếu có nhiều kế hoạch dự phòng.

 Một điểm khác cần ghi nhớ: Đừng bỏ qua bất cứ cơ hội nào để thực hiện thiện căn hay là tránh xa các căn bất thiện. Cần nắm lấy những cơ hội như thế một cách nghiêm túc, bởi lẽ chúng rất quan trọng khi kết thúc. Nếu chúng ta chỉ nhìn vào những thứ có thể làm, mà quên đi việc tạo thiện căn, và không biết tận dụng nó, thì chúng ta đã đánh mất cơ hội đó. Nếu chúng ta nhận thấy sự tiêu cực mà chúng ta có thể tránh, nhưng do lười biếng và không áy náy về nó, rồi cứ tiếp tục làm và bị lôi cuốn vào đó, thì đấy cũng là một sự lãng phí quá mức. Sẽ là tốt hơn nhiều nếu xem xét cả điều tiêu cực và tích cực một cách nghiêm túc. Và tránh làm những điều tiêu cực càng ít càng tốt, và thực hiện những hành động tích cực càng nhiều càng tốt. Nếu bạn gặp ai đó trên đường và xin bạn tiền, và bạn chỉ có 50 xu thì hãy cho nó, bởi vì 50 xu không nhiều. Nếu bạn cho và người xin có thể sử dụng thì bạn tạo được nghiệp tốt. Chúng ta không nên từ chối ngay cả những điều nhỏ. Nếu một con ruồi rơi vào ly nước của bạn, bạn không nên chỉ vớt nó ra và cho vào bồn rửa khiến nó chết. Hãy lấy con ruồi ra và bỏ nó ra ngoài cửa sổ trước khi bạn mở nước trong bồn. Thật là đơn giản, vì bạn không cần phải cố gắng quá nhiều, và làm như vậy không khiến bạn trở thành một người cuồng tín. Một vài người nghĩ “Có lợi gì trong việc cứu một con ruồi? Tôi không ăn chay”. Dĩ nhiên là bạn có thể ăn thịt, nhưng bạn cũng có thể cứu con ruồi nữa. Sẽ là tốt hơn nếu bạn ăn thịt và cứu một con ruồi còn hơn là bạn không làm điều gì tích cực cả. Có một số người thường cầu nguyện cho những chúng sinh mà họ ăn – đây là một việc làm tốt.

 Thực hành giấc mơ (bardo giấc mơ) được xem là rất hữu ích trong việc chuẩn bị cho giai đoạn bardo, bởi vì bardo có một chút ít giống như một giấc mơ. Tất nhiên, ảo ảnh ngắn của giấc mơ không thể so sánh với tầm cỡ của bardo, nhưng chúng có mối liên hệ có thể lợi ích cho việc thực hành. Khi chúng ta ngủ và mơ, chúng ta nên cố gắng đạt và gìn giữ tâm thức và tỉnh giác đủ để nhận ra ta đang trong mộng. Điều này không hề quấy rầy sự nghỉ ngơi của chúng ta, mà có lẽ giúp ích chúng ta nghỉ ngơi tốt hơn trong khi mơ, bởi vì nếu một con hổ bám đuổi theo ta trong giấc mơ thì ta sẽ không quá sợ hãi, và chúng ta sẽ không bị kiệt sức khi tỉnh giấc. Thay vào đó chúng ta có thể quan sát con hổ làm gì, nó có thể nhảy xổ vào hoặc là cắn, nhưng chúng ta không hề hấn gì cả. Con hổ có lẽ nói chuyện với chúng ta, hay là chúng ta đến gần nó, hoặc là con hổ lại ngủ thiếp đi. Trau dồi sự tỉnh giác trong giấc mơ là rất ích lợi cho việc chuẩn bị đối với bardo sinh thành.

 Những thực hành như là phowa, sự di chuyển tâm thức, hoặc là phowa ban phúc lành, đều sẽ ích lợi, cũng như nhận những lễ quán đảnh liên quan đến bardo. Bất kỳ thực hành Pháp nào cũng rất lợi lạc. Bất kỳ tư tưởng thiện nào, cảm xúc tốt đẹp nào, hoặc là những hành động giúp ích hướng tới chúng sinh khác đều rất có ích cho chúng ta. Nếu bạn có thể thiền về bản chất của tâm, suy tư và kinh nghiệm sâu sắc về bản chất của tâm thì sẽ cực kỳ ích lợi. Thực sự, đó là một trong những phần quan trọng nhất của thiền định đối với việc nhận ra tính phật của chính bạn. Ngay cả, nếu nó chỉ là một ý niệm thoáng qua của sự tỉnh giác cũng sẽ rất hữu ích rồi.

 Đây là tất cả sự chuẩn bị to lớn cho bardo. Nếu bạn đọc sách Tử thư Tây Tạng một cách cẩn thận và suy tư về nó – không phải là bị ám ảnh, mà là đọc với sự điềm tĩnh và hợp lý, và suy tưởng về nó – đó sẽ là trợ giúp tốt, bởi vì nó cho bạn một thái độ về điều gì nên mong đợi và điều gì cho rằng sẽ xảy ra. Những điều bạn học từ cuốn sách sẽ giúp ích cho bạn sau này.

 Điểm cuối cùng: từ bây giờ chúng ta có thể liên hệ một cách thuận lợi với vũ trụ thông qua các giác quan vật lý của chúng ta, và chúng ta sẽ trải nghiệm rất sống động trong bardo khi sử dụng các bài tập vi tế. Điều này được gọi là nghe âm thanh của tự nhiên. Cần thực hành vào lúc yên tĩnh, khi mọi thứ xung quanh tĩnh lặng. Có một âm thanh to diễn ra liên tục, nhưng vì chúng ta luôn luôn nghĩ, nói chuyện, hoặc là bận rộn bởi những thứ khác, nên chúng ta chưa bao giờ nghe được âm thanh đó. Khi chúng ta yên lặng, chúng ta có thể nghe được nó một chút. Khi nghỉ ngơi ở nhà, tập trung vào âm thanh này, và cố gắng trong tĩnh lặng để duy trì nó. Điều này sẽ giúp ích cực kỳ, vì đây là một trong số các âm thanh mà chúng ta sẽ bắt gặp trong suốt giai đoạn bardo.

Hiểu biết về tái sinh, những nguyên nhân và tiến trình của nó là nền tảng hết sức quan trọng đối với sự hiểu biết Phật Pháp. Thông thường, mọi người nhìn cái chết như là một hiện tượng rất tiêu cực, sợ hãi và ác cảm với nó. Nhưng cái chết không phải là tiêu cực. Nó là một phần quan trọng của tiến trình dẫn đến giác ngộ viên mãn. Học hỏi để có cái chết tự nhiên, đầy ý nghĩa là một trong những điều ích lợi nhất chúng ta có thể làm trong cuộc sống hiện tại của chúng ta. Nếu chúng ta biết cách chết đúng đắn, chúng ta có thể đi thẳng tới giải thoát.

Đức Kenting Tai Situpa Thứ XII

Trích từ: (Chương 3) ĐÁNH THỨC VỊ PHẬT ĐANG NGỦ (AWAKENING THE SLEEPING BUDDHA)
Nguyên Toàn dịch từ tiếng Anh
Nhà xuất bản Tôn Giáo – Hà Nội 2010

Comments are closed.

MẠNH MẼ ĐỂ GIÁC NGỘ - BE POWERFUL TO ENLIGHTEN
Thông tin liên quan đến dòng Truyền Thừa Ripa Vinh Quang đã được Đức Pháp Vương - Đại Khai Mật Tạng Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche ban phước. Cầu mong kho tàng giáo lý Terma thâm diệu của dòng Truyền thừa Ripa Vinh Quang sẽ làm an dịu mọi nổi thống khổ của chúng sinh mẹ tại đất nước Việt nam thân yêu.

Om Ah Hung Maha Sengha Mani Radza Sarwa Siddhi Phala Hung