Cách Yeshe Tsogyal Hoạt Động Làm Lợi Lạc Chúng Sinh Hữu Tình |

Cách Yeshe Tsogyal Hoạt Động Làm Lợi Lạc Chúng Sinh Hữu Tình

Home Yeshe Tsogyal

Làm lợi lạc cho chúng sinh là mục đích duy nhất của giáo lý Đức Phật, và như vậy những hành năng của Đức Phật chỉ có thể mang lại lợi ích. Ở Tây Tạng những lợi ích này được thể hiện rõ nét gấp 3 lần. Đầu tiên, một nền tảng vững chắc cho các giáo lý quý báu đã được thiết lập, và sự chống đối của ma quỷ cùng loài người đã được gỡ bỏ. Sau đó, các giáo lý toàn diện của cả hai phần Kinh Điển và Mật Điển được truyền bá, cộng đồng Phật giáo phát triển và tăng trưởng. Cuối cùng, để đảm bảo sự phát triển thành công cho những lời dạy của Đức Phật, các kho tàng Pháp Bảo vô biên của Phật pháp đã được cất dấu. Những điều này sẽ kéo dài đến tận tương lai, cho tới khi thế giới đi đến hồi kết và cho tới khi luân hồi trống rỗng.

Cách đây từ rất lâu, khi đạo Bon lan rộng trong xứ Tây Tạng, một hậu duệ của gia tộc Shakya Ấn Độ tên là Nyakhri đã trở thành người cai trị toàn cõi Tây Tạng. Các thế hệ đã qua đi, và cuối cùng, trong triều đại của Lha-thori, thời cuối cùng của các vị vua cổ đại, Phật Pháp đã xuất hiện. Những chỉ dẫn của Đức Thích Ca Mâu Ni từ Ấn Độ đã lan tỏa vào bốn phương Tây Tạng, nhiều người dân Tây Tạng đã lắng nghe và thực hành Thập thiện của người Phật tử.

Ở thời điểm hiện nay; giáo lý Nội Bon cũng đã được phổ biến và tồn tại hài hòa bên cạnh Phật Pháp. Đạo Bon giữ lại Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và vị tổ tâm linh của Bon là Tonpa Shenrab, họ cho rằng các vị thì thật sự giống nhau trong bản chất, dù có khác nhau ở khía cạnh. Theo như những mô tả lại về Shenrab, người được cho là đã đến từ Zhang-zhung, thì cũng tương tự như sự mô tả lại về Đức Phật.

Trong suốt cuộc đời kéo dài của Đức Pháp Vương Songtsen Gampo (vốn là một hóa thân của Đức Quán Tự Tại Avalokiteshvara), hai pho tượng nổi tiếng của Đức Phật đã được đưa đến Tây Tạng và được đặt trong các tu viện đặc biệt do nhà vua xây dựng dành riêng cho 2 bức tượng này ở Lhasa và Ramoche. Nhà vua cũng đã xây dựng 108 điện thờ trên khắp Tây Tạng nhằm phục vụ cho việc giảng dạy và thuần phục những vùng đất xa xôi hẻo lánh. Những miêu tả về tất cả các Đấng Linh Thánh trong bản khắc và tranh vẽ, theo kiểu mẫu của Nepal và Trung Hoa cũng được nhân rộng. Một bức tượng của Đức Tara một cách tự nhiên đã xuất hiện ở Khrabrug, đức vua đã rất ngạc nhiên và vui mừng nên đã có một ngôi đền đặc biệt được xây dựng ở đó cho bức tượng. Hồng Danh Tam Bảo, thần chú Lục Tự OM MA NI PAD ME HUM, cùng ảnh hưởng của Đức Avalokiteshvara đã phủ khắp Tây Tạng, Kham và thậm chí cả Trung Hoa.

Phật Pháp và Đạo Bon đều lan tỏa và không có phân biệt lớn lao nào giữa cả hai ở thời điểm đó. Các hành giả Pháp thì đi theo chiều kim đồng hồ khi họ đi nhiễu; còn các hành giả Bon thì đi ngược chiều lại. Cả hai đều gọi lễ lạy là Buma Chenpo và mỗi nhóm đều đã thực hiện chúng theo cùng cách thức.

Nhà vua đã thiết lập luật pháp dựa trên Thập thiện của người Phật tử, và Thonmi Sambhota, vị quan đại thần của nhà vua đã biên dịch từ tiếng Phạn nhiều Mật Điển về Đức Avalokiteshvara – bao gồm các phiên bản dài, vừa và ngắn. Nhà vua và các hoàng hậu của mình, các quan lại và chúng dân, tất cả đều tham gia vào các thực hành thanh tịnh phù hợp.

Khoảng 25 năm sau khi vị vua thiên tử này qua đời, một giáo phái dị giáo tên là Gyu Bon bắt đầu lan rộng ở Tây Tạng. Họ đã cố gắng để tiêu diệt cả Đạo Nội Bon và Phật Pháp. Thậm chí ngày nay, Đạo Nội Bon cũng không thể chống lại được họ, nhiều vị Nội Bon đã bị trục xuất, một số tới Kham, một số tới Kongpo, một số tới Tsang. Những người khác thì trở nên không thể hoạt động được hoặc phải hoàn toàn rời bỏ đất nước.

Phe Gyu Bon đã cố gắng nhổ tận gốc rễ Phật Pháp, nhưng các vị vua và các thống lĩnh tiểu bang đã không đồng thuận với nhau về cách xử lý việc này. Vì vậy, Phật Pháp không bao giờ bị đè nén hoàn toàn cả. Nhưng Phật Pháp đã ngừng lan rộng và vị trí của Pháp ở Tây Tạng vẫn nhiều hơn hoặc ít hơn như nó đã có trước khi phe Gyu Bon xuất hiện.

Phe Gyu Bon có quan điểm rất lầm lạc và đi theo những thực hành tà ác làm suy thoái xứ sở. Do điều này, sau đó, vào thời điểm của Đức Pháp Vương Trisong Deutsen, nhiều trường hợp đã gây khó khăn cho Phật Pháp.

Đây là một số phong tục và triết lý ngoan cố của phái Gyu Bon: Họ không có quan niệm về các cõi thiên hay các thế giới nào khác ngoài thế giới này. Các vị thần của họ bao gồm các phi nhân, “vua”, các thầy phù thủy và 8 cấp tinh linh; họ thờ cúng các thần linh địa phương, các chúa tể đất đai, các thần hoạt động, thần tài vân vân…

Họ tin rằng những tinh linh này “là” thế giới. Những phong tục của họ như sau: Họ gửi những người con gái của mình đi và giữ con dâu của họ ở lại nhà. Họ thâm hiểm. Họ thích kể những câu chuyện cổ xưa về những truyền thống của mình, họ ca hát, nhảy múa và vui mừng nhằm mang lại may mắn. Vào mùa thu, họ giết lừa hoang và dùng thịt của chúng trong các nghi lễ hiến tế đẫm máu. Vào mùa xuân, họ xẻ thịt để thực hiện lễ cúng dường hỏa thiêu. Họ tin rằng người ta có thể chuộc lại cái chết bằng việc giết hại các loại động vật. Vào mùa đông, những người Bonpo này làm các lễ cúng dường đỏ cho các vị thần của họ, và vào mùa hè họ tổ chức những lễ hội lửa cùng với sự hiến tế. Như vậy, họ đi theo những cách thuộc vào 10 điều không đức hạnh và mê đắm trong tội lỗi không thể chuộc lại được.

Thế giới quan của họ cho rằng mọi sự là tâm không có thực và tâm là không gì cả, nhưng tâm lại hóa hiện ra các vị thần cùng các tinh linh, các vị thần và các tinh linh là tâm. Hy vọng lớn nhất của họ là được sinh ra ở một nơi không có gì tồn tại; tiếp theo họ muốn được sinh ra ở một nơi chốn vô hạn; sau đó, họ lại muốn được sinh ra ở thành trì của cái không tồn tại và cũng không – không tồn tại.

Họ tìm kiếm sức mạnh, năng lực trong những cách lạ lùng: Nếu một vị thần biểu hiện dưới hình thể vật chất, thì họ cảm thấy phản ứng thích hợp nhất là nên giết những chúng sinh hữu tình và ăn thịt; sai lầm là một người nên uống máu; ít nhất, một người nên gây ra đau đớn. Điều này đã được giảng dạy cho họ.

Bình thường, những người đầu óc đơn giản coi những thứ đó như chân lý và tin tưởng các giáo lý Gyu Bon; kết quả là nhiều người đã trở nên dấn thân vào tất cả mọi loại thực hành xấu ác. Các Gyu Bon ác độc tràn lan khắp Tây Tạng, họ được ủng hộ đặc biệt bởi các quan lại Zhang.

Họ đã phá hủy rất nhiều tranh, tượng linh thánh và không ai trong họ lắng nghe giáo lý Phật Pháp. Các tu viện lớn ở Lhasa và Khra-brug bị rơi vào đống đổ nát, nhiều tu viện được xây dựng trên khắp Tây Tạng bị phá hủy. Xứ sở tự nó đã trở nên bị chia cắt.

Nhưng sau đó chính Đức Văn Thù Manjushri đã tự hóa hiện ở Tây Tạng để thiết lập lại hệ thống giáo lý Phật Giáo. Nhận lấy tái sinh như Đức Pháp Vương vĩ đại Trisong Deutsen, vị vua này đã đón rước nhiều bậc thông thái từ Ấn Độ và thỉnh mời Đức Shantarakshita, Bậc Bồ Tát xứ Zahor đến Tây Tạng. Ông đã tu bổ các điện thờ linh thiêng ở Ramoche, Khrabrug và Lhasa (được xây dựng bởi Pháp Vương Songtsen) và thánh hiến lại những điện thờ này. Nhưng khi ông bắt đầu lên kế hoạch xây dựng Samye thì các vị thần và các Bonpo của Tây Tạng bắt đầu tạo ra những chướng ngại.

Bậc Học Giả Shantarakshita đã dự đoán: “Cả loài người hữu hình cùng các vị thần và ma quỷ vô hình đều lo lắng và chưa giải quyết được. Trừ khi nhà vua thỉnh mời được đến Tây Tạng Đấng Bất Hoại, Vị Thầy Sinh Từ Hoa Sen xứ Orgyan, Ngài là bậc có Thân Kim Cương, nhà vua có thể chắc chắn yên tâm về tất cả mọi loại chướng ngại cho cả hai chúng ta – nhà bảo trợ và vị thầy.” Vì vậy, nhà vua đã cử ba vị lotsawa (dịch giả), những người Tây Tạng có trí tuệ và trình độ tuyệt vời, sở hữu sự tinh thuần cùng niềm tin lớn lao nơi Phật Pháp đi thỉnh mời Đức Orgyan Guru Rinpoche đến Tây Tạng từ xứ Ấn.

Ba vị lotsawa dễ dàng tìm thấy Đức Padmasambhava, Bậc sau đó đã đến Tây Tạng theo lời thỉnh mời của họ. Cảm nhận đức tin không chút do dự nơi Đạo Sư, nhà vuaTây Tạng cũng như một số hoàng hậu và bộ trưởng đại thần đã gửi một phái đoàn đi tới Zhongdar để chào đón Ngài. Họ cũng chuẩn bị một lễ tiếp đón long trọng cho sự xuất hiện của Ngài ở Lhasa. Nhà vua đã gặp Đức Padmasambhava ở Ombui Tshal, và đích thân nhà vua đã lên dây cương ngựa cho Đạo Sư. Những người sùng mộ và đối tượng của lòng sùng mộ đã gặp nhau, họ trộn lẫn trái tim và tâm thức mình. Nhà vua, hoàng hậu, các bộ trưởng cùng tất cả mọi người đều cảm nhận niềm tin lớn lao nơi Đạo Sư, và thật tuyệt vời, như vậy uy tín của Đức Padmasambhava đã khiến cho không ai có thể phủ nhận hay chống lại Ngài theo bất cứ cách thế nào. Ngay cả Đấng Học Giả Shantarakshita cũng cúi đầu đảnh lễ trước Đạo Sư, và trong một thời gian dài, cả hai vị đã cùng thảo luận Phật Pháp với nhau.

Sau đó tất cả bọn họ đi đến địa điểm tương lai của Samye – nhà vua, các quan lại cùng đoàn tùy tùng đi theo một nhóm, và Đức Padmasambhava, Đức Shantarakshita cùng các vị lotsawa đi theo một nhóm khác. Đức Padmasambhava đã khảo sát nền đất, tìm điểm cát tường nhất để xây dựng và Ngài thực hiện những tiên tri khác nhau.

Vào lúc này, nhà vua nói: “Tổ tiên của tôi là Đức Songtsen Gampo đã xây dựng 108 điện thờ trong suốt cuộc đời ông, nhưng chúng đã bị phân tán trên tất cả diện rộng, và đã không thể duy trì được chúng. Vì vậy, tất cả chúng đã đi đến hồi hủy hoại. Tôi muốn xây dựng một điện thờ vĩ đại trong một sự tổng hợp mạnh mẽ. Điều này có thể được chăng?

Được!” Đức Padmasambhava trả lời. “Điều đó thực sự là có thể. Chúng ta nên xây dựng một điện thờ giống như vũ trụ giới. Nó cần phải có 4 phần bên ngoài giống như bốn lục địa, mỗi lục địa đều có hai lục địa phụ, như vậy có 12 lục địa trong tổng thể. Và ở trung tâm, nên có một điện thờ giống Núi Tu Di với một bức tường bên ngoài bao quanh trang hoàng cho nó” Đức Padmasambhava đã đi vào thiền định và làm hiện ra một linh ảnh về ngôi đền phức tạp này cho nhà vua xem, và Ngài nói: “Đức Vua Vĩ Đại, nếu một ngôi đền như thế này được xây dựng, ông có hài lòng không?”

Và nhà vua trả lời: “Tôi rất hài lòng, mặc dù nó thực sự là vượt quá sức tưởng
tượng của tôi. Điều này có thể được hoàn thành sao? Nếu chúng ta có thể xây dựng một ngôi đền như vậy, tôi sẽ gọi nó là Samye – “Bất Khả Tư Nghị” “Nhà Vua Vĩ Đại, đừng bó hẹp tâm mình!” Đạo Sư trả lời. “Không có lý do gì mà chúng ta không thể làm được điều này. Ông là vua toàn cõi Tây Tạng! Ông có quyền lực đối với tất cả những người hữu hình, và Ta có quyền lực đối với tất cả những vị thần và tinh linh vô hình. Vậy có vấn đề gì đây?

Như vậy, họ đã khởi tạo Samye, đầu tiên họ hoàn thành các cấu trúc bên ngoài và sau đó lấp đầy bên trong với những hình tượng và bản văn cùng các biểu tượng tâm yếu, biểu trưng cho thân, ngữ, tâm của Phật Pháp. Tiếp đó, họ đã tập hợp những hành giả để tạo nên Tăng đoàn. Vào lúc này, Đức Padmasambhava đã dự báo rằng sẽ có 108 vị lotsawa đặc biệt. Từ 13 ngàn người Tây Tạng, sẽ có 3 ngàn người được lựa chọn, và từ số 3 ngàn này, lại có 300 người được chọn để hình thành Tăng đoàn đầu tiên. Đức Shantarakshita sẽ thụ phong cho họ, còn Đức Padmasambhava sẽ dạy họ, còn các lotsawa sẽ biên dịch.

Nhưng các bộ trưởng Bon đã chống báng Phật Pháp. Phe Gyu Bon đã tạo ra những trở ngại khiến một số vị lotsawa bị mất tích nhiều lần, làm gián đoạn sự liên tục của giáo lý 3 lần.

Tuy nhiên, cuối cùng, các Phật tử và các tín đồ Bonpo từng bên đều phát triển Tăng đoàn của mình. Đạo Bon quyết định thiết lập vị trí của họ tại Yarlung, và nhà vua cùng các bộ trưởng đều đồng ý điều này.

Các Phật tử đã thỉnh mời 21 vị Minh Sư vĩ đại từ xứ Ấn. 108 vị lotsawa, những người đã bị phân tán ở mọi ngóc ngách Tây Tạng đều đã tụ họp lại cùng nhau ở Samye. Bấy giờ, 3 ngàn trong số 13 ngàn người Tây Tạng ủng hộ Phật pháp đã được thọ giới tu sĩ trẻ. Ngay cả các Bonpo quan trọng cũng đã thỉnh mời được 7 học giả uyên bác đến từ Zhang-zhung cùng các khu vực lân cận, và 7 vị lãnh đạo Bon hùng mạnh đến từ Ombu.

Vào lúc này, Đức Padmasambhava và vị phối ngẫu đang an trú ở Onphu Hang Cọp. Đức Pháp Vương đã gửi vị lotsawa vĩ đại Dranpa Namkha cùng với 3 người khác tới để thỉnh mời Đức Padmasambhava đến Samye. Họ mang tới cho Đạo Sư chim thần Garuda, ngựa chín đầu vĩ đại của nhà vua và dẫn những con ngựa chở hàng hóa cùng các động vật khác, tất cả bọn họ đều được sắp xếp nhanh gọn cho Samye.

Đức Padmasambhava đã dự báo: “Trong một thời gian ngắn, Ta sẽ thực hiện 7 nghi lễ cho nền tảng Mật thừa. Mật thừa sẽ tập trung ở Lhasa. Chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã ban cho Ta lời dự báo này!”

Họ đi theo từng chặng và được chào đón đầu tiên ở ngôi mộ đá ở Zurkhar, và sau đó là ở Samye.

Tại Samye, Đức Padmasambhava đã ngự trên một pháp tòa được dựng lên cho Ngài dưới những tán cây thảo dược. 21 học giả từ Ấn Độ cùng các vị lotsawa Tây Tạng đã tới gần để đảnh lễ Ngài, và bậc Minh Sư vĩ đại Vimalamitra cùng những bậc lão thông này đã hát cho Ngài trong cùng một giọng ca:

“Chỉ lúc này chúng ta mới thể gặp được Đức Đạo Sư Orgyan trong sắc thân!
Chỉ lúc này chúng ta mới có thể gặp Đức Padmasambhava!
Công đức được tích tập qua nhiều kiếp mới có được kết quả này!”
Những giọt nước mắt chảy dài trên khuôn mặt họ, họ đăm đăm nhìn lên diện mạo uy nghi, phi phàm của Đạo Sư.

Đức Padmasambhava và Đức Vimalamitra đặc biệt vui mừng khi gặp lại nhau; giống như cha và con bị thất lạc nhau trong một thời gian dài, họ siết chặt tay nhau và ngồi lại cùng nhau trong căn phòng cao nhất.

Đức Pháp Vương và dòng dõi quý tộc của ông cùng các học giả đảnh lễ các Ngài từ tầng giữa và ngồi xuống. 3 lần họ lặp lại những ban phước thánh hiến đặc biệt cho ngôi đền, cầu nguyện cho việc truyền bá Giáo Pháp. Đức Padmasambhava tuyên bố rằng cần thiết phải có 3 nghi lễ lửa riêng biệt để hàng phục các lực lượng ma quỷ, và Ngài đã thực hiện nghi lễ đầu tiên, rồi lên lộ trình cho những nghi lễ khác sau này. Nhưng nhà vua đã bị phân tâm và không thỉnh cầu những nghi lễ khác phải được thực hiện tiếp, do vậy, Đức Padmasambhava đã không làm thêm nữa. Ngài dự báo rằng mặc dù Pháp sẽ lan tỏa trong tương lai, nhưng những khó khăn và ma quỷ cũng sẽ tăng theo.

Nhà vua đã mời cả các Phật tử và các Bonpo đến Samye cho các nghi lễ vào tháng cuối của năm. 5 vị lão thông Bonpo đã đến để tham dự các buổi lễ, nhưng họ không hiểu các sắc tướng, âm thanh hay các ký hiệu Phật Pháp. Các hình ảnh, văn bản và pháp khí thì không có ý nghĩa gì đối với họ; họ cũng không hiểu thập thiện. Họ không tham gia vào lời chào hoặc đi nhiễu, nhưng thay vì đứng vào một hàng ở phía sau thì họ lại đứng đối diện về phía hình ảnh các vị bổn tôn. Họ không vui vẻ với những thường dân, các bộ trưởng và nhà vua.

Ngày hôm sau, nhà vua và các Bonpo gặp nhau trước pho tượng Đức Đại Nhật Như Lai Vairocana. Các Bonpo hỏi: “O Bậc Chúa Tể, Đấng Thiên Tử, đây là trung tâm căn phòng cao nhất và tận cùng của nó là hình tượng một vị chúa tể hoàn toàn trần trụi được bao quanh bởi 8 người trần trụi khác. Họ là gì vậy? Họ đến từ đâu? Những vị này là các học giả Ấn Độ à?

Pháp Vương vĩ đại trả lời: “Bậc thầy ở trung tâm này là một đại diện của Đức Đại Nhật Như Lai Vairocana. Xung quanh ngài là 8 vị Bồ Tát. Đây là những pho tượng Phật, chúng ta tỏ lòng tôn kính với các ngài. Nếu các ông cúng dường trước các hình tượng này, các ông tích tập công đức và làm giảm nghiệp xấu trước đây.

Các Bonpo lại hỏi: “Ở trên những cánh cửa có hai vị rất mãnh liệt và phẫn nộ. Là gì vậy? Họ có phải là những sát thủ? Tại sao phải làm các hình ảnh này? Tại sao chúng ta cần họ?

Pháp Vương trả lời: “Các hình tượng ở hai bên cửa, giống như tất cả các sắc tướng phẫn nộ, nhằm mang lại lợi ích uy quyền, lộng lẫy và cát tường. Họ là những bậc hủy diệt cái ác cùng những chướng ngại, họ hỗ trợ tất cả các hành giả Phật Pháp.

Họ đại diện cho Đức Hộ Pháp Mahakala và đã được thực hiện từ nhiều chất liệu quý giá bởi các nghệ nhân vĩ đại xứ Ấn. Đức Padmasambhava cùng các bậc thầy thông thái Ấn Độ đã ban phước cho các hình tượng này. Mục đích là để lan tỏa và làm tăng trưởng giáo lý Phật Đà, làm sạch những che chướng của chúng sinh. Đó là lý do tại sao chúng ta cần các vị đó.”

Nhưng các Bonpo trả lời: “Chúng chỉ được làm chau chuốt bề ngoài thôi – một số kẻ khôn khéo đã lừa ngài với những chi tiết giả. Chúng không có gì đặc biệt cả. Đức Vua, ngài đã bị lừa. Ngày mai chúng tôi sẽ chỉ cho ngài một số điều thực sự tuyệt vời! Tín ngưỡng của chúng tôi là thực sự tuyệt vời và trọn vẹn, chúng tôi – các Bonpo có sức mạnh thật kinh ngạc. Chúng tôi sẽ làm ngài say mê với những phép lạ của mình, những điều nằm ngoài sức tưởng tượng

Rồi tất cả cùng đi bộ ra bên ngoài để xem bảo tháp. “Cái này là cái gì? – Cái vỏ này trên đỉnh có các nếp nhăn này ở giữa, phía dưới này trông giống như một đống phân chó này là gì?” các Bonpo hỏi.

Pháp Vương trả lời: “Trên đỉnh là một biểu tượng của dòng truyền thừa Như Lai đại diện cho Pháp thân. Nếu các ông muốn biết những gì nó không đại diện, thì nó không đại diện cho Báo Thân. Nó được gọi là một “chod-ten”, sự hỗ trợ cho tín ngưỡng, thờ phượng, vì nó hỗ trợ cho tín ngưỡng, thờ phượng của chúng sinh trong cõi Hóa Thân. Những chiếc lọng và đồ trang trí xung quanh đỉnh chóp đại diện cho 13 phần của Pháp Luân. Phần trung tâm giống như một chiếc bình tượng trưng cho sự rộng mở của Pháp Thân và tượng trưng cho Tứ Vô Lượng Tâm. Nền đỡ là một ngai sư tử được trang trí lộng lẫy, nắm giữ một kho tàng quý báu – bất cứ điều gì một người mong ước.”

Nếu ngài thực hành các giới luật thì ngài cần gì những hình ảnh và cấu trúc như vậy?” các Bonpo hỏi. “Điều này là không thể tin được! Chiến binh quả cảm thì không thể dùng chúng để chiến đấu, kẻ hèn nhát thì không thể dùng chúng để trốn chạy. Những người Ấn Độ này có rất ác tâm – họ đang lừa dối đức vua của chúng ta.

Nhà vua, các bộ trưởng và những người còn lại không tin một lời như vậy. Vì vậy, các Bonpo ở lại Đảo Tám gần Châu Lục Thứ 3 của Hoàng Hậu để chuẩn bị cho các buổi lễ tế thần cho nhà vua. Còn các học giả thì nghỉ ngơi ở Châu Lục của Đức Hayagriva.

Sau một thời gian, các Bonpo đã gửi một thông điệp tới nhà vua rằng họ cần 1.000 con hươu và nai đực còn nguyên vẹn cho nghi lễ hiến tế của họ, cũng như hươu cái đeo những sợi dây ngọc lam, trâu yak, cừu và dê. Họ yêu cầu 1.000 con cho mỗi loại đực và cái, họ cũng yêu cầu một số bộ y áo của nhà vua. Nhà vua nhanh chóng đưa cho họ bất cứ thứ gì họ yêu cầu và bất cứ loại chất liệu nào họ cần: y áo cùng tám loại đồ uống gồm rượu, bia, 9 loại hạt và đủ hết những gì họ muốn.

Các Bonpo sau đó gọi nhà vua cùng đoàn tùy tùng đến gặp họ. Như vậy, nhà vua và hoàng hậu cùng các lãnh chúa với đoàn tùy tùng, tất cả đều đã tới để xem các Bonpo.

9 học giả Bonpo đứng trong một đường vạch ở giữa, hai bên trái và phải là những hàng được xếp bởi 9 người đàn ông khỏe mạnh. Nhiều người đàn ông được gọi là“Trợ Tế” cầm những con dao sắc. Những người được gọi “Người Tắm” mang nước trong những chiếc muôi vàng lớn để rửa sạch những chúng sinh chờ hiến tế. Những người được gọi “Các Bonpo Đen” rải tất cả các loại hạt lên các loại động vật.

Những người được gọi là “Vấn Linh” thì đặt ra những câu hỏi cho các vị thần và các tinh linh bao quanh họ, rồi sau đó các vấn linh nhận lại được những câu trả lời từ họ.

Tiếp theo, các “Trợ Tế” cắt cổ họng của những chú hươu và lừa đực hoang, họ dâng những gì còn lại lên như những hiến tế. Họ đã làm việc tương tự với những con trâu yak, cừu và dê cùng các động vật khác – 3 ngàn con vật đã bị hiến tế cùng một lúc.

Họ tóm lấy nai và cắt chân chúng như những cúng dường. Họ dùng hơn 3 ngàn động vật cái khác là trâu yak, cừu, dê và sau khi cắt bỏ chân, lột da sống chúng trước đó cho lễ hiến tế. Họ đã giết ngựa, trâu, bò, la, chó, chim và heo, tất cả trong những cách khác nhau. Sau khi họ hoàn thành nghi lễ, tất cả Samye đầy rẫy mùi hôi thối của thịt cháy.

Sau đó, những người được gọi là “Người Xẻ” xẻ thịt ra khỏi xương. “Người Chia” chia những phần còn lại và phân phát chúng tới tất cả các nơi, và “Các Bonpo Đếm” đếm lại tất cả. Nhiều chiếc ấm được rót đầy máu và được phủ bằng da thịt sau đó được chất thành đống cao với thịt. Vào lúc này, họ tụng niệm các nghi lễ Bon. Như vậy, đây là sự thực hành Bon.

Nhà vua cùng các hoàng hậu, các bộ trưởng không hề hài lòng khi phải chứng kiến tất cả điều này. Hơi máu xông lên, và trong những làn sóng hơi nước, họ có thể nhìn thấy những cầu vồng lạ lùng và nghe thấy những âm thanh ồn ào không liên quan với bất kỳ dạng thức nào như âm thanh quái ác, âm thanh buồn bã, những tiếng rít chói tai cùng những tiếng thét điên dại của HU SHU! HA HA!

“Đây là những âm thanh của các vị thần Svastika Bon, âm thanh may mắn, âm thanh thịnh vượng! Những âm thanh kỳ diệu!” các Bonpo kêu lên. Và họ dâng lên tất cả những tảng thịt đỏ với máu còn nhỏ giọt cho nhà vua, và hỏi vua có vui lòng với nghi lễ tà ác này không. “Bệ Hạ, như thế này không tốt sao? Ngài không có chút thỏa mãn nào với Bon sao? Đại Vương, ngài không cảm thấy đức tin tăng trưởng trong tâm sao? Điều này không phải là tuyệt vời sao?”

Nhưng tự trong tâm nhà vua không hề hài lòng. Những người khác thì không biết phải nghĩ gì, và như vậy, đầy do dự, họ quay lưng và đi vào bên trong.

Các học giả và dịch giả đã chứng kiến tất cả, và họ nói với nhà vua: “Ngài không thể có 2 giáo lý cùng tồn tại một lúc. Nếu phía Đông là thấp, thì đằng sau, phía Tây phải cao hơn. Pha trộn Phật Pháp với những giáo lý của những kẻ dị giáo này thì không có ý nghĩa. Lửa và nước không bao giờ có thể gặp nhau như những người bạn – ngài phải gửi những kẻ đồng minh tà ác này ra thật xa. Thậm chí không được có ngay cả một thời khắc chúng tôi có thể kết hợp với những kiểu sai lầm như vậy.

Giáo lý độc hại này làm nhiễm ô mọi thứ; chúng tôi sẽ không uống tạp chất như vậy. Nếu họ ở lại, chúng tôi sẽ sắp xếp để thực hành ở chỗ nào xa chỗ này trong an lạc và bình yên. Nếu nhà vua thực sự mong muốn Pháp có thể duy trì trong xứ Tây Tạng, thì chỉ khi nào các Bonpo không được phép đánh đồng với chúng tôi

Họ đã gửi thông điệp mạnh mẽ này cho nhà vua 9 lần. Lần cuối, nhà vua đã cho tập hợp tất cả các quan lại và các lãnh chúa lại, ông nói: “Các lãnh chúa và quan lại đại thần Tây Tạng, hãy nghe ta! Các Bonpo có một hệ thống hoạt động – các Phật tử có một hệ thống khác. Họ giống như lòng bàn tay và mu bàn tay, giống như chấp nhận và chối bỏ; như cho và nhận. Ai có thể tin tưởng cả hai cùng một lúc? Các học giả Ấn Độ, các dịch giả Tây Tạng và 3.000 vị Lama trẻ đã cho ta biết vị trí của họ. Điều gì cần được thực hiện đây?

Đáp lại, bộ trưởng đại thần Bonpo Zhang nói: “Chúa Công, bậc thần nhân của chúng tôi! Tốt nhất là con sông và các nhánh của nó nên phải tách biệt mà vẫn bình đẳng. Trong quá khứ, nhiều vị dịch giả đã được gửi đi. Nhưng nếu các Bonpo giữ được vị trí của họ và các Phật tử giữ được nơi chốn cho mình thì sẽ có hòa bình.

Gosgan không đồng thuận: “Nếu đạo Bon tràn lan, nhà vua sẽ rất khó chịu và phiền muộn. Nếu Phật pháp tràn lan, các bộ trưởng sẽ không được vui vẻ. Nhà vua và các bộ trưởng đại thần đang bị kéo đi theo hai hướng khác nhau. Nếu Phật Pháp và Bon cùng tồn tại trong một nơi trên cơ sở bình đẳng thì họ sẽ như lửa và nước – những sự đối địch của tự nhiên. Vì vậy, thời gian đã tới để kết thúc tình trạng xâu xé này! Hãy để chúng ta gỡ rối sự thật từ sự dối trá: Hãy để chúng ta quăng bỏ cái chết để giải quyết sự thật. Chúng ta cần phân biệt giáo lý đúng từ sai lầm. Một phe sẽ thành công và phe kia sẽ kết thúc.

Ngày mai chúng ta sẽ tổ chức một cuộc tranh luận. Nhà vua sẽ ngự ở trên cao nhất; các bộ trưởng và các lãnh chúa sẽ ngồi ở phía trước. Các tăng sĩ Phật giáo sẽ ngồi bên phải và các Bonpo bên trái. Sau đó sẽ có một cuộc tranh luận nhằm thẩm định những điểm phân biệt giữa các triết lý của họ. Nhà vua, các bộ trưởng, lãnh chúa, hoàng hậu và những người khác phải đứng đằng sau giáo lý họ theo. Mỗi người phải ủng hộ giáo lý mà họ cảm thấy là đúngChúng ta sẽ cắt bỏ những gì sai và chấp nhận sự thật – điều sẽ chỉ tự nó biểu lộ bằng những dấu hiệu kỳ diệu. Chúng ta đưa ra các năng lực của từng phe. Nếu Phật Pháp là đúng, chúng ta sẽ ủng hộ Phật Pháp và tiêu diệt đạo Bon xuống đến tận gốc rễ. Nếu Bon là đúng, chúng ta sẽ hủy diệt Phật pháp và đi theo con đường của Bon.”

Nhà vua và đoàn tùy tùng của nhà vua đều đồng ý điều này, họ giao hẹn sẽ thực hiện theo quyết định cuối cùng. Ngay cả các Bonpo cũng đồng ý với cuộc tranh luận, vì họ được thuyết phục rằng Phật Pháp thì không bằng với Bon trong quyền năng và phép thuật. Pháp Vương sau đó tham khảo ý kiến các học giả Ấn Độ:

E Ma Ho!
O hỡi những Bậc thông thái và thành tựu,
Những bậc Tôn Nghiêm linh thánh, Những Bậc Giác Ngộ!
Khi các Phật tử và Bonpo đối mặt với nhau
Họ giống như những kẻ sát nhân –
Sẽ không chấp nhận phe kia.
Nhà vua đau khổ, cũng như các bộ trưởng và hoàng hậu.
“Phật giáo và Bonpo thì như nhau
Thấy tình cảnh này đều không thể chấp nhận.
Vì vậy, ngày mai họ sẽ tham gia vào cuộc tranh luận –
Họ phải tranh đua với nhau,

Sử dụng triết lý, các dấu hiệu chứng ngộ và những năng lực kỳ diệu thực sự.
Sau đó nhà vua và các bộ trưởng sẽ quyết định giáo lý nào là đúng.
Chúng ta sẽ biết cái nào để một người đi theo –
Chúng ta sẽ có sự xác tín và niềm tin.
Giáo lý không đúng sự thật sẽ bị xóa sổ,
Những người ủng hộ nó sẽ bị trục xuất đến các vùng biên giới hoang dã.
Nhà vua và các bộ trưởng sẽ biết những luật lệ nào để tuân theo.
Họ sẽ thấy những gì con đường phải xúc tiến.”
Các học giả hoan hỷ trả lời nhà vua:

“Tuyệt hảo, Bậc Uy Nghiêm, Chúa tể của chư thần!
Đây thực sự là cách thích hợp để giải quyết,
Thật sự là cách của một vị Pháp Vương.
Pháp chắc chắn sẽ chinh phục được Phi-Pháp,
Ma quỷ và những sai lầm chắc chắn sẽ được hàng phục.
Tụ hội ở đây là tất cả những Phật tử thông tuệ và thành tựu –
Thậm chí ở Bodh Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng) cũng không có ai cao hơn.
Nhiều lần chúng tôi đã hàng phục được những kẻ dị giáo, đi lạc với sự thật.
Chúng tôi phải lo sợ trước những cái được gọi là Bonpo này sao?
Họ sẽ bị đánh bại và bị trục xuất đến những vùng đất khác,
Và luật lệ thiện lành sau đó sẽ được thực thi.”

Câu trả lời này khiến nhà vua vô cùng hài lòng. Ông đã ngay lập tức giải thích cách sắp xếp với các Bonpo. Họ cũng đồng ý và nói: “Nếu 9 bậc thủ lãnh thông thái của chúng tôi tranh luận, chúng tôi chắc chắn sẽ giành chiến thắng. Họ có năng lực và sức mạnh vĩ đại, và chúng tôi sẽ chiến thắng!” Do đó, họ đã tập hợp nhau lại để chuẩn bị.

Và như vậy, khi dịp Năm Mới đến. Vào ngày rằm tháng giêng âm lịch, trên đồng bằng bao quanh những ngọn đồi vĩ đại của Samye, một ngai lớn được chuẩn bị cho nhà vua. Một thềm ngự cho các Phật tử được xây dựng bên phải, nơi các vị dịch giả, học giả và những người theo Phật giáo sẽ ngồi, còn một thềm khác cho các Bonpo cùng các tín đồ của họ được xây dựng ở bên trái. Các bộ trưởng và lãnh chúa ngồi ở phía trước theo từng hàng, được bao quanh bởi một đám đông lớn, đa dạng gồm đủ các thành phần đến từ mọi vùng Tây Tạng.

Đầu tiên Pháp Vương nói: “Hãy nghe đây! Ta là chúa tể của tất cả xứ Tây Tạng! Ta là chúa tể trên chư thần và loài người, các Phật tử và các Bonpo. Tất cả đều nằm dưới quyền thống trị của ta! Các bộ trưởng đại thần, hoàng hậu và giới quý tộc, hãy nghe ta!

“Các đức vua trước của Tây Tạng đã ủng hộ cho cả các Phật tử và các Bonpo. Kể từ đó, đạo Bon đã lan rộng. Chính ta, giống như tổ tiên của mình là Đức Songtsen Gampo đã muốn Bon và Phật Pháp cùng tồn tại. Nhưng giờ họ phải đối mặt với nhau như những kẻ sát nhân. Ta đã cố gắng để có được sự công bằng và các bộ trưởng cũng vậy, nhưng những nỗ lực của chúng ta đã bị đổ bể. Bây giờ, chúng ta phải quyết định giữa nguyên lý của 2 hệ thống này.

“Dù kết quả của cuộc tranh luận này có thế nào đi chăng nữa thì tất cả đều phải chấp nhận nó – ai không tuân theo thì họ sẽ thấy sự thịnh nộ của ta, ta sẽ ban sắc lệnh rằng bất cứ học thuyết nào được coi là sai trái, dù là Phật giáo hay Bon, đều phải bị trục xuất; thậm chí tên của tôn giáo đó sẽ không còn được nghe thấy trong xứ Tây Tạng. Bên thua cuộc phải chấp nhận thất bại. Những người chiến thắng sẽ được tôn vinh lớn, và tất cả sẽ đi theo họ.”

Nhà vua công bố điều này 9 lần, và nó cũng được viết ra để phổ biến rộng rãi. Khi những đám đông dân chúng ngồi xuống, chờ đợi cho cuộc tranh luận bắt đầu, Đấng Vĩ Đại xứ Orgyan, đích thân Đức Padmasambhava đã xuất hiện, Ngài ngự trong không gian trên đỉnh một cây cọ phía trên mặt đất. “Hãy lóng nghe!” Ngài nói.

Đây là một cơ hội lớn để phân biệt giữa các giáo lý của Phật giáo và Bon.” “Đầu tiên, cần phải có một cuộc tranh luận sáng tỏ, rõ ràng để bắt đầu sự kiện này; tiếp đó, để xây dựng và hứng thú, sẽ có một cuộc luận giảng về phong tục và niềm tin tín ngưỡng. Chúng ta sẽ lật đi lật lại vấn đề. Cuối cùng, chúng ta sẽ phân biệt các hệ thống bằng cách tranh luận, thẩm định các triết lý cơ bản và kết quả mục đích. Chúng ta sẽ làm rõ những gì là đúng và những gì là sai. Kĩ thuật thực hành trí tuệ và sức mạnh tâm linh sẽ được thử nghiệm cho đến khi nhà vua và các bộ trưởng được thuyết phục, và những dấu hiệu tự chúng sẽ được biểu lộ.”

Khi Đức Padmasambhava đích thân ngồi xuống lần nữa, thân Ngài trở thành thân tướng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nhà vua cùng các bộ trưởng đã bị chinh phục trước sự uy nghi, lộng lẫy của Ngài. Khẩu của Ngài thì vẫn là của Đức Padmasambhava, Bậc Chúa Tể Các Học Giả, và tất cả các vị dịch giả, học giả đều lấy được dũng khí. Tâm Ngài hóa hiện như Dorje Drolod, bậc hàng phục những sai lầm và dị giáo, thậm chí ngay cả các Bonpo cũng cảm thấy sức mạnh vượt trội của Ngài, họ đã phát triển niềm tin không thể lay chuyển, họ đã tán thán Đấng Orgyan. Đầu tiên, Acarya Dza-Jamyang và các Bonpo tham gia vào một cuộc thi trí tuệ như một khúc dạo đầu cho cuộc tranh luận. Các Bonpo đã thắng trò chơi; Họ vẫy những lá cờ của mình và hô lớn lời ngợi khen cho các thần linh của mình. Họ đã nhận được nhiều phần thưởng lớn, và khi họ được ban đồ uống bởi chính nhà vua, các bộ trưởng Bonpo đã vô cùng hả hê.

Trong tâm nhà vua không được vui, nhưng Đức Shantarakshita đã nói với ông:

Mới keo đầu thôi mà – mặc dù các Bonpo đã thắng trò chơi, nhưng Pháp không bị mất. Bây giờ 9 học giả Bonpo sẽ tranh luận giáo lý với các các học giả vĩ đại.”

Đức Vimalamitra vĩ đại thông tuệ nói:

“Vạn pháp do duyên sinh
Duyên diệt vạn pháp diệt
Đức Phật Đại Sa Môn
Hằng giáo huấn như vậy.

Không làm các việc ác
Siêng làm các việc lành
Thanh tịnh tâm ý mình
Là lời chư Phật dạy.”

Khi Đức Vimalamitra nói, Ngài hiện lên trong không gian và ngồi vắt chéo chân trong một vầng hào quang sáng chói. Ngài búng ngón tay 3 lần và 9 học giả Bonpo đều bị câm lặng và không thể đưa ra câu trả lời.

Trong một cách như vậy, 25 học giả xứ Ấn cùng 108 vị lotsawa lần lượt trình bày sự hiểu biết của họ về các kinh văn với luận lý sắc bén, chính xác. Họ nắm vững nền tảng của mình trong cuộc tranh luận và biểu hiện những chứng ngộ cùng chân lý đúng đắn từ các giáo lý. Một lần nữa, các Bonpo bị cứng lưỡi. Họ không thể biểu hiện bất kỳ dấu hiệu nào của chân lý. Họ chỉ ngồi đó, thẫn thờ và lảm nhảm.

Các Bộ trưởng Bon phản biện: “Đúng, các ông đã thắng cuộc tranh luận, nhưng cuộc thi phép thuật vẫn còn cơ mà. Các Bonpo sẽ làm phép lạ để tất cả người dân Tây Tạng, các vị thần cũng như loài người được lấp đầy bởi điều kỳ diệu! Chúng tôi sẽ trình diễn những điều tuyệt vời, dễ chịu – chúng tôi sẽ làm tất cả các ông ngạc nhiên! Chúng tôi sẽ thể hiện những món quà làm hài lòng các ông! Chúng tôi sẽ làm tất cả các ông sững sờ! Chúng tôi sẽ phô bày các dấu hiệu chứng ngộ, sức mạnh, những năng lực huyền thuật mật chú đen, và các ông sẽ nhanh chóng rút lui!”

Các Bonpo bị thiêu đốt từ bên trong và nói những lời cay cú, khó chịu về sự tức tối của họ: “Những kẻ man rợ Ấn Độ rất thiếu hiểu biết, chúng đã tạo ra một đám mây che chướng dày đặc xúc phạm đến các vị thần Svastika Bon của chúng ta. Chúng ta sẽ không tranh luận với các học giả lúc này. Sau khi khôi phục lại sức mạnh củamình, chúng ta sẽ giết chúng. Còn bây giờ, chúng ta sẽ chỉ tranh luận với các lotsawa, không phải với bọn ngoại quốc.”

Pháp Vương, sau đó đã cúng dường lên từng vị học giả vĩ đại một lượng bụi vàng cùng một chiếc áo choàng lụa đẹp, ngài tán thán tất cả các vị hết lời. Những dải lụa Phật giáo bồng bềnh, âm nhạc được tấu lên và những bông hoa rơi xuống từ bầu trời. Các vị thần xuất hiện cao lớn trong không trung ca hát với niềm hân hoan. Vô cùng ngạc nhiên, những người dân Tây Tạng đã phát triển niềm tin lớn lao trong Phật Pháp và họ đều rơi nước mắt.

Còn ở phe Bon, mưa đá rơi xuống như những viên đá. “Các vị thần đã nói!” họ nói, và các bộ trưởng Bon đã phải cúi đầu trước Phật Pháp. Họ đã thể hiện sự tôn kính tới các học giả và xin lỗi các vị lotsawa. Đức Văn Thù Manjushri đã hóa thân thành Pháp Vương, lúc này nhà vua đã biết trong trái tim ông Phật Pháp là gì và những gì không phải là Phật Pháp. Một lần nữa tất cả chúng dân Tây Tạng đã thốt lên: “Pháp đã thắng! Pháp là tuyệt vời và vĩ đại! Bây giờ tất cả sẽ theo Chánh Pháp!”

Pháp Vương nói: “Bây giờ các lotsawa và các Bonpo phải tranh luận với nhau.” Vị lotsawa vĩ đại Vairotsana đã tranh luận với Bonpo Thangnag và Namkhai Nyingpo tranh luận với Tong-gyu. Mỗi vị lotsawa tranh luận với một Bonpo, nhưng không ai trong số các Bonpo chọi lại được với các lotsawa. Sau mỗi cuộc thi, Pháp Vương đã ban cho người chiến thắng một viên đá trắng “chân lý” và những người thua cuộc một viên đá đen.

Khi Vairotsana đã có được 900 viên đá trắng, và Thangnag bị 1.005 viên đá đen, tất cả các lotsawa đã vẫy cờ chiến thắng và reo hò. Khi Nub Namkhai Nyingpo giành chiến thắng với 3.000 viên đá trắng và Tong-gyu bị thua với 30 ngàn viên đen, một lần nữa các lotsawa đã vẫy cờ chiến thắng. Ngay cả Tsogyal và nữ hoàng Bon Chogro-bza cũng tranh luận. Tsogyal đã giành phần thắng và người phụ nữ Bon kia thậm chí đã không thể nói gì. Nhưng chúng ta sẽ giải thích những điều kỳ diệu đã xảy ra này sau đó.

Như vậy, 120 lotsawa thắng cuộc và 9 vị lãnh đạo học giả Bon thua cuộc. Hoàn toàn cứng lưỡi, họ thậm chí không thể trả lời. Miệng họ trở nên méo xẹo, khuôn mặt đẫm mồ hôi và đầu gối họ lắc lư mà không thể nói năng được gì.

Sau đó đến lượt cuộc thi về những dấu hiệu chứng ngộ. Vairotsana đã nắm tất cả ba cõi trong lòng bàn tay mình; Namkhai Nyingpo cưỡi trên những tia sáng mặt trời và thể hiện nhiều hành năng kỳ diệu cát tường. Sangye Yeshe thu hút ma quỷ lại với nhau trên đỉnh một lưỡi dao Phurba và giết chúng bằng cách xiên qua. Sau đó, ông cắm lưỡi dao vào một tảng đá. Dorje Dudjom bay nhanh như gió và lượn vòng quanh bốn châu lục chỉ trong chốc lát. Để chứng minh mình đã thực hiện được nó, ông đã đưa cho nhà vua 7 loại đá chỉ có thể được tìm thấy ở tận cùng trái đất.

Gyalwa Chowang hóa hiện ra Đức Hayagriva trên đỉnh đầu mình – Đức Hayagriva sau đó đã hý lên 3 lần, lấp đầy tất cả tam thiên đại thiên thế giới với âm thanh. Chúng sinh trong ba cõi, các cõi trời cùng các cõi khác đã được thuần phục ngay lập tức. Như một dấu hiệu minh chứng, ông đã dâng lên pháp luân vàng ròng 9 nan của Vua Trời Phạm Thiên (Brahma).

Gyalwai Lodro đã đi được trên mặt nước. Danma Tsenang hoàn toàn chinh phục các Bonpo bằng sự luận giải của mình về Phật Pháp. Ông có thể trình bày tất cả các bản dịch về những lời dạy của Đức Phật từ trí nhớ; thậm chí ông còn có thể làm hiển thị các nguyên âm và phụ âm trong hư không.

Kawa Paltseg đưa ma quỷ nằm dưới tầm kiểm soát của mình, và Obran Zhonnu di chuyển dưới nước như một con cá. Jnanakumara tách cam lồ mật hoa từ các loại đá, và Ma Rinchen-chog thì ăn đá như thể chúng là bánh mì. Palgyi Dorje di chuyển tự do qua lại xuyên qua vách đá. Sogpo Lhapal khiển loài hổ cái ở phía nam đến với mình chỉ đơn thuần bằng cách sử dụng ấn móc câu, thần chú mệnh lệnh và thiền định.

Dranpa Namkha đã gọi loài bò hoang dã từ xa xôi phía bắc, còn Chogro Klui Gyaltshan thỉnh triệu các vị Chúa Tể Ba Bộ xuất hiện trên bầu trời. Langro Konchog Wungdan kéo xuống 13 tia sét cùng lúc và điều khiển hướng đi của chúng tùy ý như những mũi tên. Khye-chung thu hút các Dakini lại với mình và nắm giữ họ bằng năng lực thiền định. Gyalmo Yudra Nyingpo thuần phục mọi người bằng phương tiện ngữ pháp và luận lý. Tingnge-Dzin Togsa-pa tỏa sáng rạng ngời trên tất cả những người khác với nhiều bản dịch thơ ca. Gyalwa Wangchub ngồi vắt chéo chân trên bầu trời và Tingnge-Dzin Wangpo bay qua không khí, ông đã có thể nhìn thấy bốn lục địa và nhiều hơn nữa cùng một lúc.

25 thành tựu giả vĩ đại từ Chimphu, 100 bậc tâm linh mạnh mẽ từ Yepa, 30 hành giả mật thừa từ Shelbrag và 55 bậc trí giả từ Yang Dzong cũng như những vị khác đã phô diễn những dấu hiệu khác nhau của chứng ngộ như vậy. Họ đưa lửa vào nước, và đưa ngược nước vào lửa. Họ di chuyển trên bầu trời và đi xuyên qua đá, núi. Họ nổi bồng bềnh trên mặt nước, biến nhiều thành ít và ít thành nhiều – và đây chỉ là một số những hành năng kỳ diệu được phô diễn. Người Tây Tạng không thể không tin vào Phật pháp. Và các Bonpo không thể nào không bỏ cuộc. Các Bộ trưởng Bon thì cứng họng, không nói được gì cả.

Đỉnh điểm là khi Công Chúa Tsogyal tranh luận với các Bonpo và các Bonpo bị thua. Vào lúc đó, họ đã dùng phép thuật giết người, các phép quỷ thần phù chú ma thuật đen, dùng chồn và thịt chó, đèn bơ và máu, họ đã tung ra 8 thần chú ác hiểm. 9 tăng sĩ trẻ đột ngột bị chết bất đắc kỳ tử. Nhưng với sự ban phước của Tsogyal, tất cả các tăng sĩ đều sống lại. Trong thực tế, 9 người được cứu mạng bởi Tsogyal đều trở nên sắc xảo và thông tuệ hơn. Do vậy, các Bonpo đã vô cùng xấu hổ. Bắt những thế ấn mạnh mẽ, vĩ đại – rồi chỉ thủ ấn vào 9 người, Tsogyal tụng âm PHÁT 9 lần, và bọn họ đã đi vào trạng thái mất ý thức. Sau đó cô tụng âm HUM 9 lần, và một lần nữa họ đã tỉnh lại. Họ đã đạt được quyền kiểm soát trên 5 nguyên tố nên họ có thể ngồi giữa bầu trời trong tư thế hoa sen và thực hiện được những điều kỳ diệu khác.

Cô đã làm hiện lên những ngọn lửa với những màu sắc khác nhau từ 5 đầu ngón tay trên bàn tay phải của mình, mỗi ngọn lửa đầy màu sắc ấy quay tròn như một bánh xe. Các Bonpo đã rất sợ hãi. Và 5 dòng nước với những màu sắc khác nhau đã đổ ra từ 5 ngón tay trên bàn tay trái của cô. Chúng chảy cùng nhau vào một chỗ tạo thành một hồ nước. Cô đã cắt gọt các tảng đá lớn ở Chimphu với bàn tay của mình như thể chúng là bơ và gọt dũa những tảng đá thành các hình dạng khác nhau. Tsogyal đã thực hiện những điều kỳ diệu, tuyệt vời như vậy! Cô thậm chí còn phân thân, hóa hiện ra 25 hóa thân của chính mình và từng hóa thân ấy lại thực hiện một kỳ tích phi thường khác nhau.

Các Bonpo nói: “Chúng tôi sẽ không cộng tác với người nữ này, bất kỳ người Tây Tạng nào ở gần cô ta sẽ bị khinh rẻ.” Và ngày hôm sau, khi 9 người mạnh mẽ bị quật ngã cùng lúc, các Bonpo đã đe dọa sẽ biến Samye thành tro bụi. Họ leo lên ngọn đồi Hapori và ném sấm sét xuống điện thờ. Nhưng Tsogyal đã tóm họ trên đầu ngón tay mình và ném tất cả bọn họ tới Ombu, xứ của đạo Bon, nơi họ đã gây ra sự tàn phá lớn.

Phe Bon lại phóng 13 tia chớp nữa xuống Samye nhưng Tsogyal đã gửi tất cả chúng quay ngược trở lại đánh xuống các Bonpo. Như vậy, phe Bon đã thua cuộc cả trong cuộc thi tranh luận và cuộc thi năng lực. Theo đúng luật định, họ phải bị trục xuất, nhưng Tagra và Glugong cùng những bộ trưởng đại thần quyền lực khác không thể bị loại bỏ một cách dễ dàng như vậy. Họ đã đi đến Ombu, ở đó họ đã đe dọa sẽ phá hủy tất cả Tây Tạng bằng cách tung ra nhiều kiểu bùa phép mạnh mẽ – 9 vòng Nữ Thánh Thần, 9 vòng Đại Hành cũng như các loại bùa phép lửa, nước, đất và không khí.

Pháp Vương đã hỏi các vị dịch giả, học giả lời khuyên về cách kiểm soát các Bonpo. Khi đề cập đến điều này, Đức Padmasambhava chỉ đơn giản bảo Tsogyal: “Con Gái, con bảo vệ nhà vua.” Tsogyal đã thiền định ở phòng thờ tự cao nhất của Samye, cô khai mở và thực hành mạn đà la Vajrakila. Trong 7 ngày cô đã thực hành và thấy được vô số các chư tôn cũng như phát triển các dấu hiệu đại năng lực.

Sau đó, cô đã khiến lực lượng bùa phép của các Bonpo xoay ngược lại chính nó, vì vậy mà các vị thần báo thù Bon đã tấn công vào chính những kẻ bảo trợ của mình, trong một lần đã giết được Tagra, Klugong cùng năm bộ trưởng Bon khác, những kẻ đã khinh thường, chống báng Phật Pháp. Trong số 9 Bonpo mạnh nhất, 8 tên giờ đã chết; chỉ còn một tên sống sót. Các cấp bậc, quyền lực của Bonpo bị tiêu hao và suy yếu đáng kể.

Ngay lập tức Pháp Vương đã gọi tất cả các Bonpo lại với nhau ở Samye và ông đưa ra một số điều luật liên quan đến họ. Đức Padmasambhava đã khuyên nhà vua:

Đạo Nội Bon thì hài hòa với Pháp, hãy để họ giữ nguyên như vậy! Nhưng những kẻ Bon sai lầm này thì không khác gì với những kẻ dị giáo độc ác và tà kiến nhất. Ông không thể giết chết họ, vì nếu ông làm vậy, mọi người sẽ đàm tiếu – mà thay vào đó, ông có thể trục xuất họ ra khỏi xứ sở.

Pháp Vương đã làm đúng theo như lời Đạo Sư khuyên bảo, đối xử khác biệt với Đạo Nội Bon và Ngoại Bon. Các bản văn của Ngoại Bon ông cho đốt hết, nhưng các sách vở và kinh văn của Nội Bon ông coi chúng như các báu vật và gìn giữ thật cẩn thận. Đạo Ngoại Bon bị trục xuất đến Mông Cổ, xứ của những người mặt khỉ, trong khi Đạo Nội Bon thì được gửi đến Zhang-zhung và các nước lân cận biên giới Tây Tạng.

Theo luật lệ được đặt ra sau đó, họ đã quyết định rằng những người nằm dưới chủ quyền của Pháp Vương (bao gồm cả các bộ trưởng, giới quý tộc, những người Tây Tạng và không phải người Tây Tạng) nên thực hiện đúng theo các quy định của Phật Pháp và không phải của đạo Bon. Nhà vua tuyên bố:

Toàn cõi Tây Tạng từ Trung Hoa tới Khrigo sẽ được phủ kín với các giáo lý Phật Đà, Tăng Đoàn và những bậc lão thông giảng dạy Phật pháp.”

Để kỷ niệm cho quyết định này, nhà vua đã tổ chức một thang chuông Pháp vĩ đại ở Samye. Vỏ ốc xà cừ Pháp được gióng lên, Cờ Pháp tung bay và ngai tòa vàng của Pháp được thực hiện. Đấng Vĩ Đại xứ Orgyan, Đức Padmasambhava cùng bậc thông tuệ nhất xứ Zahori, Đức Bồ Tát Shantarakshita và bậc thông thái xứ Kasmiri, Đức Vimalamitra, ngự trên những ngai vàng vĩ đại. 21 bậc học giả xứ Ấn và các vị lotsawa vĩ đại như Vairotsana và Namkhai Nyingpo ngự trên các tòa ngồi với 9 lớp nệm bọc vải thổ cẩm. Các vị lotsawa khác cũng được ban cho tòa ngồi với 3 lớp nệm.

Nhà vua cúng dường lên tất cả các vị với rất nhiều phẩm vật, vàng ròng cùng các chất liệu quý giá khác. Mỗi vị thầy vĩ đại xứ Ấn đều nhận được 9 bó thổ cẩm, 3 thỏi vàng, 3 đấu bột vàng và một núi những tặng vật khác. Ba bậc minh sư xứ Orgyan, Zahor và Kasmir được cúng dường lên mạn đà la vàng ròng và lam ngọc, những bó tơ lụa mịn màng cùng vô số những điều tuyệt vời khác. Sau đó, như một thỉnh cầu đặc biệt, nhà vua đã khẩn cầu 3 vị minh sư ở lại Tây Tạng để truyền bá các kinh văn của cả Kinh Giáo và Mật Giáo trên khắp xứ sở. Tất cả các học giả đều vô cùng hài lòng với thỉnh cầu này, họ thốt lên: “Tuyệt hảo! Tuyệt hảo!” Vào lúc ấy, Đức Shantarakshita, Đức Padmasambhava và Đức Vimalamitra đều hứa sẽ ở lại Tây Tạng để ban truyền giáo lý Phật Pháp nếu nhà vua thực sự mong ước.

Việc tu tập sau đó được bắt đầu ở Samye với 7 ngàn tăng sĩ học giả và ở Chimphu với 900 hành giả. 1.000 đệ tử theo học tại các trung tâm triết học Khra-Brug và 100 người ở trung tâm thực hành Yang Dzong; 3 ngàn người theo học ở trung tâm họcthuật Lhasa và 500 người ở trung tâm thực hành Yepa. Trong thời gian một năm, các đệ tử ở ba trung tâm Pháp chính là Lhasa, Samye và Khra-Brug cũng như ở 6 trung tâm thứ yếu đã hoàn thành khóa giảng dạy.

Nhiều trung tâm Pháp khác bấy giờ đã được xây dựng ở Glang-thang trong Kham, Rabgang trong Menag, Gyaltham trong Jang, Bya-tshang trong Ma và tất cả trải rộng qua bốn thung lũng phía đông cùng sáu ngọn núi phía đông. Dongchu được xây dựng ở Pobo, Ronglam ở Barlam, Buchu ở Kongpo và Chimyul cùng Dvagslung ở Dvagspo; các đền thờ được dựng lên ở bốn khu vực trung tâm: Jomo Nang Tagdan ở Tsang, ở Laphi, Tsang và Tsang-rong, ở Nga-ri-man, và v.v…. Như vậy, Phật Pháp đã được truyền bá rộng rãi khắp xứ Tây Tạng.

Đức Namkhai Nyingpo Rinpoche
Trích trong Bà mẹ trí tuệ

Comments are closed.

MẠNH MẼ ĐỂ GIÁC NGỘ - BE POWERFUL TO ENLIGHTEN
Thông tin liên quan đến dòng Truyền Thừa Ripa Vinh Quang đã được Đức Pháp Vương - Đại Khai Mật Tạng Terchen Namkha Drimed Rabjam Rinpoche ban phước. Cầu mong kho tàng giáo lý Terma thâm diệu của dòng Truyền thừa Ripa Vinh Quang sẽ làm an dịu mọi nổi thống khổ của chúng sinh mẹ tại đất nước Việt nam thân yêu.

Om Ah Hung Maha Sengha Mani Radza Sarwa Siddhi Phala Hung